NGUYỄN SƠN: VỊ TƯỚNG MUỐN CẢ TIẾNG HÁT ĐI VÀO TRẬN ĐÁNH
Trong ký ức về Thiếu tướng Nguyễn Sơn, người ta thường nhắc tới danh xưng “lưỡng quốc tướng quân”. Nhưng có một thời đoạn gần gũi hơn để hiểu ông: những năm 1947–1949 ở Liên khu 4, khi người chỉ huy không chỉ lo tổ chức lực lượng mà còn coi văn hóa, nghệ thuật và việc học là một phần sức mạnh của cuộc kháng chiến. Giữa thiếu thốn và nguy cơ chiến tranh mở rộng, quan niệm ấy tạo nên một chân dung khác của vị tướng từng trải qua nhiều năm chiến đấu ở nước ngoài.


Trong lịch sử quân đội, không thiếu những bức chân dung vị tướng đứng trước bản đồ, bàn về hướng tiến quân và những mũi tiến công. Với Nguyễn Sơn, người ta còn nhắc đến một hình ảnh khác: vị chỉ huy quan tâm đến sân khấu, sách vở và sinh hoạt văn hóa của bộ đội. Bên cạnh tiếng súng còn cần một tiếng hát; bên cạnh kỷ luật hành quân còn có nhu cầu học chữ, đọc sách và giữ gìn đời sống tinh thần. Đó không phải sự trang trí cho chiến tranh, mà là cách nhìn con người giữa hoàn cảnh phải chiến đấu lâu dài.
Nguyễn Sơn sinh ngày 1 tháng 10 năm 1908 tại Kiêu Kỵ, Gia Lâm, Hà Nội, tên khai sinh Vũ Nguyên Bác. Cuộc đời ông gắn với phong trào cách mạng Việt Nam và Trung Quốc, có nhiều năm tham gia lực lượng cách mạng tại Trung Quốc với tên Hồng Thủy. Sự nghiệp trải qua hai đất nước khiến ông được gọi là “lưỡng quốc tướng quân”. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng ở danh xưng ấy, người đọc dễ bỏ qua những năm tháng ông trực tiếp gánh trách nhiệm ở miền Trung Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp.
Sau Cách mạng Tháng Tám, nước Việt Nam non trẻ phải xây dựng quân đội trong điều kiện lực lượng và phương tiện còn rất hạn chế. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ cuối năm 1946 làm thay đổi nhịp sống của nhiều vùng quê. Liên khu 4 có vị trí đặc biệt: vừa là địa bàn tổ chức kháng chiến, vừa phải bảo đảm hậu phương, giữ liên lạc với các chiến trường. Người chỉ huy ở đây phải giải quyết cùng lúc những vấn đề quân sự, dân vận, hậu cần và tổ chức đời sống nhân dân.
Trong thời gian giữ trọng trách ở Liên khu 4, Nguyễn Sơn có điều kiện đem kinh nghiệm tổ chức lực lượng vào thực tế Việt Nam. Tư liệu quân đội cho biết ông từng là Tư lệnh kiêm Chính ủy Liên khu, tham gia gây dựng và củng cố bộ đội. Những việc ấy không chỉ thể hiện ở trận đánh. Khi quân đội trưởng thành từ lực lượng đa dạng, công việc giáo dục càng trở nên cần thiết.
Điều làm Nguyễn Sơn khác biệt trong nhiều hồi ức là mối quan tâm tới văn nghệ. Trong hoàn cảnh kháng chiến, biểu diễn một vở kịch hay tổ chức một cuộc nói chuyện không đơn giản như ở thời bình. Người tham gia vừa phải làm nhiệm vụ, vừa thiếu sân khấu, trang phục, sách in và điều kiện đi lại. Dẫu vậy, sinh hoạt văn hóa có thể giúp người lính từ nhiều vùng quê tìm thấy tiếng nói chung, nâng cao nhận thức và bớt đơn độc trong những tháng ngày xa gia đình.
Để hiểu lựa chọn ấy cần đặt nó cạnh sức ép của một vị tư lệnh. Liên khu không phải chỗ chỉ có những cuộc họp thuận lợi. Tinh thần không được tạo ra một lần rồi giữ mãi; nó phải được nuôi dưỡng qua sinh hoạt tập thể và cách đối xử giữa người với người.
Tư liệu của Thông tấn xã Việt Nam nhấn mạnh Nguyễn Sơn có đóng góp cho nền văn hóa mới với phương châm dân tộc, khoa học, đại chúng. Đó là định hướng rộng hơn một số tiết mục văn nghệ. Nó gắn với việc phổ biến kiến thức, khuyến khích sáng tác và tìm con đường để văn hóa tham gia kháng chiến. Tài liệu hiện có không cho phép khẳng định mọi hoạt động sân khấu cụ thể đều do đích thân ông chỉ đạo. Nhưng đường hướng ông quan tâm và sự hiện diện của sinh hoạt văn hóa trong đơn vị là những chi tiết có căn cứ.
Năm 1948, Nguyễn Sơn được phong quân hàm thiếu tướng trong đợt phong tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam. Trước đó và sau đó, cuộc đời ông vẫn tiếp tục gắn với các nhiệm vụ quân sự ở nhiều nơi. Năm 1950, ông trở lại Trung Quốc, về sau được phong quân hàm trong Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc. Hành trình đi qua hai lực lượng vũ trang khiến tên tuổi ông có vị trí riêng trong lịch sử; nhưng những năm Liên khu 4 mới làm rõ vì sao một người từng trải qua chiến tranh khắc nghiệt lại quan tâm đến việc nuôi dưỡng tinh thần của người lính.
Nguyễn Sơn mất ngày 21 tháng 10 năm 1956. Những cuốn sách và tài liệu viết về ông thường phải đi qua nhiều tên gọi, địa danh và cương vị. Trong đó, hình ảnh đáng giữ lại là cách một người chỉ huy từ kinh nghiệm chiến tranh nhận ra giá trị của văn hóa đối với lực lượng đang chiến đấu.
Một buổi sinh hoạt văn nghệ thời kháng chiến có thể đã kết thúc rất nhanh để những người tham gia trở lại công việc, nhưng ý nghĩa của nó không nhất thiết biến mất cùng tiếng hát. Nếu chiến tranh đặt con người trước nguy cơ bị rút gọn thành một chức danh hay một con số thương vong, thì văn hóa nhắc rằng mỗi người còn có trí nhớ, tình cảm và khát vọng học hỏi. Ở góc ấy, di sản của Nguyễn Sơn tại Liên khu 4 nằm không chỉ trong trang lịch sử quân sự, mà còn ở suy nghĩ: giữ cho con người nguyên vẹn cũng là một việc của người chỉ huy.



