Nguyên tắc tiến hành công tác dân vận và tăng cường mối quan hệ mật thiết với nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Nguyên tắc tiến hành công tác dân vận và tăng cường mối quan hệ mật thiết với nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Một là, lấy lợi ích của nhân dân là mục đích hàng đầu khi tiến hành dân vận.
Dân vận là thực hiện và bảo vệ lợi ích của nhân dân; chăm lo lợi ích cho nhân dân cũng là mục tiêu phấn đấu của Đảng và Hồ Chí Minh. Theo Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân, ngoài lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, Đảng không có lợi ích nào khác. Người nhấn mạnh: “Tất cả đường lối, phương châm, chính sách… của Đảng đều chỉ nhằm nâng cao đời sống của nhân dân nói chung”(1).
Khi nước nhà vừa mới giành được độc lập sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, với tư cách là người đứng đầu Đảng và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà, Hồ Chí Minh nêu lên một quan điểm: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”(2). Người còn nói rõ thêm: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”(3). Do đó, Người đặt vấn đề vận động quần chúng chính vì sự ấm no, hạnh phúc của nhân dân.
Có thể thấy rằng, thực hiện theo những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, những động thái quyết liệt, những quyết sách phù hợp, sát với điều kiện cụ thể của đất nước như kiên quyết chống giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm; về chủ trương và tổ chức thắng lợi cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa I theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu; xây dựng và thông qua Hiến pháp 1946; đẩy mạnh tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm, gây dựng đời sống mới, nền văn hóa mới… của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa những năm đầu mới giành được độc lập chính là minh chứng sinh động trên thực tiễn.
Mọi chủ trương, chính sách của Đảng đưa ra nhằm một mục đích cao nhất là vì lợi ích của nhân dân. Do đó, công tác vận động quần chúng phải xuất phát từ lợi ích của nhân dân, lợi ích trước mắt cũng như lợi ích lâu dài; lợi ích của cá nhân, tập thể và xã hội. Có như thế, nhân dân mới sẵn sàng hưởng ứng, đem hết sức dân mà làm lợi cho dân; ngược lại, nếu không xuất phát từ lợi ích của dân sẽ không huy động được sức dân, nguy hiểm hơn đó là sẽ làm mất niềm tin của nhân dân với Đảng, với nhà nước.
Hai là, thực hành dân chủ là phương thức cơ bản của công tác dân vận.
Với việc đề ra quy trình bốn điểm về dân vận và công tác dân vận, Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh rõ vai trò của thực hành dân chủ trong công tác dân vận: “Trước nhất là phải tìm mọi cách giải thích cho mỗi một người dân hiểu rõ ràng: Việc đó là lợi ích cho họ và nhiệm vụ của họ, họ phải hăng hái làm cho kỳ được.
Điểm thứ hai là bất cứ việc gì đều phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến và kinh nghiệm của dân, cùng với dân đặt kế hoạch cho thiết thực với hoàn cảnh địa phương, rồi động viên và tổ chức toàn dân ra thi hành.
Trong lúc thi hành phải theo dõi, giúp đỡ, đôn đốc, khuyến khích dân.
Khi thi hành xong phải cùng với dân kiểm thảo lại công việc, rút kinh nghiệm, phê bình, khen thưởng”(4).
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, dân chủ nghĩa là dân là chủ và dân làm chủ. Nếu dân chủ là “của quý báu nhất của nhân dân” thì thực hành dân chủ trong công tác dân vận cũng chính là “chìa khóa vạn năng” để giải quyết mọi khó khăn: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu. Khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Vì vậy, ngay phần mở đầu trong bài báo “Dân vận”, Hồ Chí Minh viết: “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân.
Bao nhiêu quyền hạn đều của dân.
Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân.
Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân.
Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra.
Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên.
Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”(5).
Theo cách diễn đạt trên, bản chất dân chủ của Nhà nước ta không chỉ thể hiện ở việc nhân dân tổ chức nên bộ máy Nhà nước, mà còn thể hiện đậm nét, đa dạng ở việc huy động được và trách nhiệm tham gia của nhân dân vào quản lý các công việc của Nhà nước.
Xét dưới góc độ dân vận, việc đảm bảo cho nhân dân tham gia quản lý các công việc nhà nước là một hình thức thể hiện dân chủ, thể hiện bản chất tiến bộ của nhà nước. Theo Hồ Chí Minh, nói dân chủ thì phải lắng nghe ý kiến của nhân dân; đó là tiêu chuẩn quan trọng trong dân vận.
Ngay từ buổi đầu thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Hồ Chí Minh đã nhắc nhở: “Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật”(6).
Ngày 20-02-1947, nói chuyện với các đại biểu thân sĩ trí thức, phú hào tỉnh Thanh Hoá, Hồ Chí Minh tiếp tục nhấn mạnh: “Chính phủ cộng hoà dân chủ là gì? Là đày tớ chung của dân, từ Chủ tịch toàn quốc đến làng. Dân là chủ thì chính phủ phải là đày tớ… Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi chính phủ”(7). Người khẳng định: dân chủ là nhân dân “là người làm chủ đất nước, chủ xã hội, chủ cuộc sống”. Các cấp chính quyền Nhà nước, các đoàn thể nhân dân, bao giờ, ở đâu, xuất phát của hành động cũng là “vì lợi ích của nhân dân mà làm và chịu trách nhiệm trước nhân dân”.
Ba là, thực hiện đoàn kết trong tiến hành dân vận.
Nghiên cứu lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, Hồ Chí Minh đã đi đến kết luận: “Sử ta dạy cho ta bài học này. Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do. Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn”(8). Bởi vậy, dân vận phải hướng tới mục tiêu đoàn kết dân tộc trên cơ sở có sự “đồng tâm”, “đồng sức”, “đồng lòng”, “đồng thuận’, “đồng hưởng” của toàn dân, từ nhiệm vụ và mục tiêu đoàn kết, dân vận hướng toàn dân tộc vào thực hiện mục tiêu lý tưởng: Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Theo đó, tiến hành dân vận phải thực hiện đoàn kết giữa người đi vận động với những người được vận động, nghĩa là phải tìm được tiếng nói chung, mẫu số chung trong cách giải quyết công việc, tránh đối đầu, mâu thuẫn khác biệt. Trong tiến hành dân vận, phải thực hiện tốt nguyên tắc biến cái đại sự thành tiểu sự, biến cái tiểu sự thành vô sự. Dân vận là xây dựng khối đoàn kết toàn dân và chỉ có đoàn kết tốt giữa các lực lượng dân vận mới làm tốt dân vận.
Hồ Chí Minh chỉ rõ rằng, vận động quần chúng để thu hút quần chúng chính là để đoàn kết mọi người, tạo ra động lực phát triển kinh tế – xã hội và văn hoá. Theo Người, để phát huy đầy đủ vai trò, trí tuệ, khả năng to lớn của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc, trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng và Nhà nước cũng như mọi cán bộ, đảng viên phải biết làm tốt công tác giáo dục, tuyên truyền, hướng dẫn, giúp đỡ và vận động quần chúng nhân dân thực hiện mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; phải giúp nhân dân hiểu đầy đủ, sâu sắc về quyền lợi, trách nhiệm và nghĩa vụ của người công dân đối với Đảng, với Tổ quốc và với dân tộc, từ đó họ tích cực, chủ động, tự giác phấn đấu và cống hiến cho sự nghiệp cách mạng.
Người dặn: “cần phải chịu khó tìm đủ cách giải thích cho họ hiểu rằng: những việc đó là vì ích lợi của họ mà phải làm”(9). Theo Hồ Chí Minh mọi phương pháp tiếp cận và vận động quần chúng đều phải phù hợp với tâm tư, nguyện vọng của quần chúng; đồng thời phải xuất phát từ thực tế trình độ dân trí và văn hoá, theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp, bao gồm cả phong tục, tập quán và cụ thể đối với từng địa phương, từng đối tượng của nhân dân.
Trong tiến trình lịch sử dân tộc, Hồ Chí Minh đã trở thành biểu tượng của khối đại đoàn kết, niềm tin, niềm kiêu hãnh cho dân tộc Việt Nam vượt qua nhiều thử thách lịch sử. Để xây dựng, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc và nhân nguồn sức mạnh đó lên, Người luôn coi trọng việc giác ngộ, tập hợp nhân dân vào hàng ngũ cách mạng, biến ý chí, tư tưởng cách mạng của Đảng thành ý chí, tư tưởng, động lực để phát huy sức mạnh của nhân dân. Người đã kết nối các giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo, đảng phái dưới ngọn cờ đại đoàn kết toàn dân tộc làm nên những thắng lợi vẻ vang. Từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đã khái quát nhiều luận điểm có tính chân lý về vai trò của khối đại đoàn kết: Trong thư gửi đồng bào Công giáo ngày 14-10-1945, Người viết: “Không đoàn kết thì suy và mất.
Có đoàn kết thì thịnh và còn. Chúng ta phải lấy đoàn kết mà xoay vần vận mệnh, giữ gìn dân tộc và bảo vệ nước nhà”(10); Nói chuyện tại Hội nghị đại biểu Mặt trận Liên-Việt toàn quốc ngày 10-01-1955, Người giải thích: “Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác. Đó là nền gốc của đại đoàn kết. Nó cũng như cái nền của nhà, gốc của cây”(11); Nói chuyện tại Đại hội đại biểu Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ 2 ngày 25-4-1961, Người nhắc lại câu nói đã trình bày trong cuộc Đại hội hợp nhất Việt Minh – Liên Việt năm 1951: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, Thành công, thành công, đại thành công”(12).
Trong tiến trình cách mạng Việt Nam, đại đoàn kết dân tộc được xem là vấn đề có ý nghĩa chiến lược quyết định thành công của cách mạng, mặt khác, đại đoàn kết dân tộc là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, của dân tộc. Để thực hiện được đoàn kết các giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo… vào khối đoàn kết toàn dân tộc nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu của cách mạng thì Đảng phải có sứ mệnh thức tỉnh, tập hợp, hướng dẫn quần chúng, chuyển những nhu cầu, những đòi hỏi khách quan, tự phát của quần chúng thành những đòi hỏi tự giác, thành hiện thực có tổ chức trong khối đại đoàn kết, tạo thành sức mạnh tổng hợp trong cuộc đấu tranh vì độc lập của dân tộc, tự do cho nhân dân và hạnh phúc cho con người.
Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc và xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi là một tư tưởng và là một thành công lớn của Hồ Chí Minh về công tác dân vận. Người đã tập hợp được những tổ chức cách mạng chân chính về một mối, quy tụ sức mạnh của toàn dân tộc, tranh thủ sự ủng hộ của mọi tầng lớp nhân dân. Người coi sức mạnh của nhân dân được tổ chức lại một cách khoa học chính là sức mạnh vô địch. Vì vậy, tiến hành dân vận phải hướng tới mục tiêu xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Bốn là, thông qua các tổ chức để tiến hành dân vận
Để tuyên truyền, giáo dục, quản lý một con người cần phải đưa họ vào trong một tổ chức, thông qua các tổ chức chính trị, các hội, đoàn thể quần chúng mà tập hợp vận động nhân dân, đồng thời qua từng tổ chức để xác định quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi thành viên trong tổ chức. Hồ Chí Minh nêu rõ, dân vận và công tác dân vận là sự nghiệp của cả hệ thống chính trị của toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước thông qua Mặt trận dân tộc thống nhất.
Là đội tiền phong của giai cấp công nhân, đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của cả dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện sự lãnh đạo toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có công tác dân vận. Dân là chủ và thực hiện quyền làm chủ của mình chủ yếu bằng nhà nước, trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật. Theo Hồ Chí Minh, nếu không có nhân dân thì chính phủ không đủ lực lượng. Nếu không có chính phủ, thì nhân dân không ai dẫn đường. Công tác dân vận là nhiệm vụ của toàn bộ hệ thống chính trị, của toàn dân, song phải được tiến hành thông qua Mặt trận dân tộc thống nhất, tổ chức thực hiện khối đại đoàn kết dân tộc. Tuỳ theo các thời kỳ khác nhau của cách mạng, Mặt trận dân tộc thống nhất có thể có những tên gọi khác nhau: Hội phản đế đồng minh (1930), Mặt trận Việt Minh (1941), Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (1955, 1976)… nhưng thực chất chỉ là một tổ chức chính trị rộng rãi, tập hợp đông đảo các giai cấp, tầng lớp xã hội, các dân tộc, tôn giáo, đảng phái, các tổ chức, các cá nhân yêu nước ở trong và ngoài nước phấn đấu vì mục tiêu chung là độc lập, thống nhất cho Tổ quốc, tự do và hạnh phúc cho nhân dân. Trên cơ sở thực hiện nguyên tắc hiệp thương dân chủ, lấy việc thống nhất lợi ích tối cao của dân tộc và lợi ích của các tầng lớp nhân dân làm cơ sở cho tổ chức và hoạt động, Mặt trận dân tộc thống nhất thực sự là tổ chức mà qua đó Đảng thực hiện sự lãnh đạo, Nhà nước thực hiện sự quản lý, nhân dân và cả hệ thống chính trị thực hành công tác dân vận.
Những quan điểm tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về từng lĩnh vực trong công tác dân vận, trong đó có nguyên tắc tiến hành công tác dân vận, tăng cường sự gắn bó mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, vừa mang những giá trị sâu sắc, toàn diện của lịch sử, vừa luôn giữ được tính thời sự nóng hổi; vừa là những định hướng khái quát chung, lại vừa cụ thể soi rọi vào từng công việc thường nhật của công tác dân vận. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn coi trọng vai trò, vị trí và khẳng định tầm quan trọng của công tác dân vận, thể hiện xuyên suốt và thống nhất từ Cương lĩnh chính trị, văn kiện đại hội, các nghị quyết chuyên đề của Trung ương, quy chế, quy định… cùng sự vận dụng phù hợp theo từng thời kỳ cách mạng.



