Nguyễn Tấn Gi Trọng – người bác sĩ mang chiếc máy ghi âm về cho tiếng nói Việt Nam
Năm 1946, trên đường từ Pháp trở về, bác sĩ Nguyễn Tấn Gi Trọng mang theo một chiếc máy ghi âm giúp Đài Tiếng nói Việt Nam lưu lại lời xướng, nhạc hiệu và thực hiện bản thu Tuyên ngôn Độc lập phục vụ lưu trữ. Người trí thức ấy còn tổ chức công việc của Quốc hội giữa chiến khu và góp phần đặt nền móng cho ngành sinh lý học Việt Nam.
Những ngày đầu của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, phòng thu của Đài Tiếng nói Việt Nam còn hết sức đơn sơ. Để giảm tiếng vọng, người ta phải treo chăn quanh căn phòng. Lời xướng, bản tin và cả nhạc hiệu đều được đọc, biểu diễn trực tiếp trước micro. Chỉ cần một người nói nhầm hoặc nhạc công đánh sai một nốt, âm thanh ấy lập tức truyền đi và không thể làm lại. Đài khi đó chưa có thiết bị ghi âm để lưu giữ tiếng nói của chính mình.
Giữa hoàn cảnh thiếu thốn ấy, vào năm 1946, một bác sĩ từ Pháp trở về đã mang theo một chiếc máy ghi âm. Người đó là Nguyễn Tấn Gi Trọng.
Chiếc máy giúp Đài Tiếng nói Việt Nam có thể thu sẵn lời xướng và nhạc hiệu thay vì lần nào phát sóng cũng phải thực hiện trực tiếp. Đặc biệt, thiết bị còn được dùng để thực hiện lại bản ghi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, phục vụ việc lưu trữ lâu dài. Đây không phải bản thu trực tiếp tại Quảng trường Ba Đình ngày 2/9/1945, nhưng nó góp phần bảo tồn giọng đọc thiêng liêng của vị Chủ tịch nước cho các thế hệ sau.
Ít người biết rằng người đem về thiết bị quan trọng ấy vốn không phải một kỹ sư vô tuyến. Ông là bác sĩ, nhà báo, đại biểu Quốc hội và sau này là một trong những người xây dựng ngành sinh lý học Việt Nam.
Nguyễn Tấn Gi Trọng sinh ngày 1/1/1913 tại làng Bình Trưng, quận Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho. Năm 1935, sau khi đỗ tú tài toàn phần, ông theo học Trường Đại học Y Dược thuộc Viện Đại học Đông Dương tại Hà Nội. Năm 1941, ông tốt nghiệp bác sĩ với luận án nghiên cứu về giá trị của phương pháp chọc dò xương ức trong khảo sát bệnh sốt rét.
Sau khi ra trường, ông làm việc trong ngành y tế của Hỏa xa Đông Dương. Tuy nhiên, chiếc áo blouse trắng không giới hạn sự quan tâm của ông đối với đời sống xã hội. Nguyễn Tấn Gi Trọng còn làm báo, từng tham gia điều hành và biên tập tờ Tin Mới. Chính kinh nghiệm báo chí này đã đưa ông đến một nhiệm vụ hoàn toàn khác trong những ngày đầu độc lập.
Tháng Tám năm 1945, ông tham gia cuộc tổng khởi nghĩa tại Hà Nội. Sau khi chính quyền cách mạng được thành lập, Võ Nguyên Giáp giao cho ông giữ chức Phó Cục trưởng Quân y. Trong hoàn cảnh đất nước vừa giành độc lập, bệnh tật lan rộng, thuốc men và nhân lực đều thiếu, một bác sĩ có chuyên môn như ông là người rất cần thiết đối với ngành quân y non trẻ.
Nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thấy ở Nguyễn Tấn Gi Trọng không chỉ có kiến thức y học. Ông còn am hiểu báo chí, biết cách truyền đạt thông tin và có khả năng tập hợp giới trí thức. Đầu năm 1946, ông được giao phụ trách công tác thông tin – tuyên truyền của Chính phủ. Khi toàn quốc kháng chiến bùng nổ, ông tiếp tục giữ chức Tổng giám đốc Nha Thông tin – Tuyên truyền.
Đó là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng. Chính quyền cách mạng phải vừa chống giặc ngoài, vừa đối phó với nạn đói, nạn mù chữ và những luận điệu xuyên tạc. Thông tin lúc ấy không chỉ để người dân biết tin tức. Mỗi bản tin, tờ truyền đơn hay buổi phát thanh còn có nhiệm vụ củng cố lòng tin rằng nước Việt Nam mới thực sự tồn tại và đang được bảo vệ.
Trong chuyến đi Pháp cùng phái đoàn Chính phủ năm 1946, liên quan đến quá trình đàm phán dẫn tới Tạm ước ngày 14/9, Nguyễn Tấn Gi Trọng đã tìm cách mang chiếc máy ghi âm trở về nước. Giữa thời kỳ một chiếc máy như vậy là tài sản quý hiếm, quyết định của ông cho thấy tầm nhìn của một người hiểu rõ giá trị của âm thanh và tư liệu lịch sử.
Ông nhận ra rằng lời nói nếu chỉ truyền đi một lần sẽ nhanh chóng tan vào không khí. Nhưng khi được ghi lại, tiếng nói ấy có thể vượt qua thời gian, trở thành ký ức chung của cả dân tộc.
Nguyễn Tấn Gi Trọng đồng thời là đại biểu Quốc hội khóa I. Trong kỳ họp ngày 30/10/1946, ông đã chất vấn Bộ trưởng Bộ Y tế về tình trạng phân bổ bác sĩ chưa hợp lý và sự thiếu hụt nhân viên y tế ở Nam Bộ. Câu hỏi ấy phản ánh mối quan tâm xuyên suốt của ông: nền độc lập phải gắn với những vấn đề cụ thể trong cuộc sống của người dân, từ thuốc men, bệnh viện đến việc bảo vệ sức khỏe ở những vùng đang có chiến sự.
Khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bước vào giai đoạn quyết liệt, bộ máy Quốc hội phải hoạt động trong điều kiện phân tán giữa núi rừng Việt Bắc. Ngày 19/3/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 38/SL, cử bác sĩ Nguyễn Tấn Gi Trọng giữ chức Chánh Văn phòng Ban Thường trực Quốc hội.
Một Quốc hội trong chiến khu không có những tòa nhà lớn hay phòng họp đầy đủ. Công văn có khi phải theo người liên lạc vượt núi, băng rừng. Tin tức từ các địa phương về chậm, trong khi cán bộ thường xuyên di chuyển để tránh sự truy quét của quân Pháp. Trong hoàn cảnh đó, văn phòng do Nguyễn Tấn Gi Trọng phụ trách vẫn phải duy trì mối liên hệ giữa Ban Thường trực Quốc hội với Chính phủ, các tổ chức và địa phương.
Nếu chiếc máy ghi âm giúp giữ lại tiếng nói của quốc gia, thì công việc thầm lặng của ông trong chiến khu góp phần duy trì hoạt động của cơ quan đại diện cho nhân dân giữa những năm tháng chiến tranh.
Từ năm 1952 đến năm 1954, Nguyễn Tấn Gi Trọng phụ trách công tác y tế tại Khu học xá Trung ương ở Nam Ninh, Trung Quốc. Sau hòa bình lập lại ở miền Bắc, ông trở về với chuyên môn ban đầu của mình.
Năm 1957, ông phụ trách Bộ môn Sinh lý học tại Trường Đại học Y Hà Nội. Những ngày đầu, cơ sở của bộ môn còn nghèo nàn, thiết bị cũ và nhân lực ít. Ông vừa giảng dạy, vừa đào tạo đội ngũ trẻ, từng bước xây dựng một cơ sở nghiên cứu sinh lý học có hệ thống.
Một trong những đóng góp đáng chú ý của ông là tham gia chỉ đạo việc nghiên cứu các hằng số sinh học của người Việt Nam. Trước đó, nhiều tài liệu y khoa trong nước thường sử dụng các chỉ số được xây dựng từ người châu Âu hoặc những cộng đồng có đặc điểm thể chất, môi trường sống khác. Việc khảo sát người Việt Nam giúp giới y học có cơ sở phù hợp hơn khi đánh giá sức khỏe, chẩn đoán bệnh và nghiên cứu các vấn đề về lao động, dinh dưỡng, nội tiết hay sinh sản.
Ông còn tham gia nhiều hướng nghiên cứu ứng dụng như y học lao động, hormone nhau thai và kế hoạch hóa gia đình. Với Nguyễn Tấn Gi Trọng, khoa học không thể chỉ nằm trong sách vở. Một kết quả nghiên cứu chỉ thực sự có ý nghĩa khi giúp bác sĩ hiểu rõ hơn cơ thể con người Việt Nam và cải thiện sức khỏe của cộng đồng.
Trong suốt 41 năm, từ năm 1946 đến năm 1987, ông liên tục là đại biểu Quốc hội qua bảy khóa, từ khóa I đến khóa VII. Khoảng thời gian ấy bao trùm chiến tranh, chia cắt, thống nhất và những năm đầu tái thiết đất nước. Dù làm việc trong ngành thông tin, văn phòng Quốc hội hay giảng đường y khoa, ông vẫn giữ hình ảnh của một trí thức thẳng thắn, tận tụy và đặt lợi ích quốc gia lên trên vị trí cá nhân.
Ông được phong học hàm giáo sư, danh hiệu Nhà giáo Nhân dân và được trao Huân chương Độc lập hạng Nhất cùng nhiều phần thưởng cao quý. Nguyễn Tấn Gi Trọng qua đời ngày 6/12/2006 tại Thành phố Hồ Chí Minh, hưởng thọ 93 tuổi.
Cuộc đời ông dường như đi qua nhiều con đường khác nhau: từ phòng khám đến tòa soạn, từ đài phát thanh đến chiến khu Quốc hội, rồi trở lại phòng thí nghiệm và giảng đường. Nhưng phía sau những công việc ấy là một lựa chọn nhất quán: dùng tri thức để phụng sự đất nước.
Chiếc máy ghi âm ông mang về năm 1946 vì thế không chỉ là một thiết bị kỹ thuật. Nó tượng trưng cho ý thức gìn giữ ký ức của một dân tộc vừa giành lại quyền tự quyết. Nhờ những con người lặng lẽ như Nguyễn Tấn Gi Trọng, tiếng nói của nước Việt Nam mới không chỉ được cất lên giữa thời khắc lịch sử, mà còn có thể truyền lại cho nhiều thế hệ mai sau.


