NGUYỄN THÁI BÌNH TÔI LÀ NGƯỜI VIỆT NAM

Lẫn trong hàng trăm hành khách có mặt trên chuyến bay LPA PANAM 841 ngày 2/7/1972 cất cánh từ Washington và quá cảnh tại Honolulu là một chàng trai châu Á trạc ngoài hai mươi khôi ngô đĩnh đạc. Những ánh mắt lướt qua vội vã, những cú hích vai vội vàng va nhau, không ai quan tâm đến ai. Trên chiếc Boeing 747 khổng lồ này thì ai cũng chỉ biết phận người nấy, một chuyến bay đường dài mệt mỏi, trực chỉ về Sài Gòn.
“Yes, Im Vietnamese”, chàng trai cười tươi trả lời một ai đó. “My name’s Thái Bình.”
KHÁT VỌNG THÁI BÌNH
Nguyễn Thái Bình, là tên khai sinh và cũng là ước vọng mẹ cha, của những người con dân trong thời tạo loạn. Bình vừa ra đời vào ngày 14/1/1948 đã cùng cha mẹ nếm mùi bom đạn từ dưới quê Cần Giuộc, ẵm chạy tránh hết nơi này đến nơi khác; riết rồi chỉ có một mơ ước duy nhất đó mà thôi. Thái Bình cho dân tộc Việt! Một người Việt tên Thái Bình! Việt Thái Bình!
Bình đã chọn cho mình cái tên đó thay lời tuyên ngôn, cũng là bút danh dưới những bài viết sắc sảo, kể từ khi đặt chân đến xứ người.
Học xong tiểu học tại quê nhà, Nguyễn Thái Bình theo cha lên Sài Gòn học tại trường Pétrus Ký. Năm 1966, anh đỗ tú tài vào Cao đẳng Nông Lâm Súc Sài Gòn (nay là Trường Đại học Nông Lâm Tp. Hồ Chí Minh). Nhờ thành tích học tập xuất sắc mà năm 1968, cậu được USAID (Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ) cấp học bổng toàn phần để du học. Sau 1 năm học tại Đại học Cộng đồng ở Fresno, California, cậu sinh viên chăm chỉ lại trở thành người Việt duy nhất thi đậu vào Đại học Washington ngành Thực phẩm và Ngư nghiệp. Xa nhà, thương cha nhớ mẹ, cộng với sự tiếp cận thông tin đa chiều khách quan từ bạn bè thế giới đã dần thay đổi nhân sinh quan của cậu học sinh nhút nhát hiền lành. Ngày còn ở nhà, Bình là kẻ ngoài cuộc, anh không hề bị cuốn vào các phong trào sinh viên học sinh đang sục sôi như vũ bão mà chỉ âm thầm lặng lẽ chuyên chú học hành. Nhắc đến anh, thầy cô bạn bè cũ chỉ có cùng một nhận xét, học giỏi và ngoan.
Thế nhưng, tuổi thanh niên mang nặng hoài bão, ước mơ và nhiệt huyết là để phụng sự đồng bào Tổ quốc, đâu thể là cái máy được chế tạo theo lập trình. USAID không chọn nhầm đối tượng để đào tạo, nhưng họ không điều khiển được trái tim con người.
CHÀNG TRAI VIỆT ĐẤU TRANH TRÊN ĐẤT MỸ
Những năm cuối thập niên 60, phong trào phản đối chiến tranh rầm rộ, sôi nổi ở Mỹ, đặc biệt trong giới thanh niên, sinh viên. Càng tiếp xúc với bạn bè cùng trang lứa và các thành phần trí thức tại xã hội Mỹ, Bình càng dần dần sáng tỏ ra nhiều vấn đề; điều mà một cậu học sinh hiền lành chưa thể ngộ ra ngay trên quê nhà của mình. Và lần về thăm nhà giữa khóa học cách đẩy hai năm, anh đã tự mình đi khắp miền Nam để càng có thêm cơ sở chứng minh những gì mà anh đã chiêm nghiệm ngay trên đất khách. Làng mạc thôn xóm tiêu điều, tang tóc, đâu đâu cũng gặp cô nhi quả phụ, mẹ già khô nước mắt khóc con, những thanh niên trẻ măng chưa kịp lớn bị xô ra chiến trường làm bia đỡ đạn.
Nước Mỹ, nơi Bình tri ân những người thầy tận tụy truyền đạt tri thức cho mình, tạo điều kiện và khích lệ anh hoàn thành 4 năm đại học với tấm bằng Cử nhân danh giá. Nước Mỹ, nơi mà anh có thể gặp gỡ bạn bè năm châu, cùng nhau trao đổi bàn bạc công khai thoải mái mọi vấn đề. Và nước Mỹ đã làm gì trên quê hương anh?
Chúng đã dựng lên và duy trì một loạt các chính quyền bù nhìn, phát xít, độc tài từ Diệm tới Thiệu để cản trở việc tái lập hòa bình, ngăn chặn công cuộc thống nhất nước Việt Nam, biển miền Nam Việt Nam thành một căn cứ quân sự và thuộc địa mới của Mỹ để dùng làm bàn đạp chinh phục toàn thể nước Việt Nam và ngăn chặn công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của các dân tộc Đông Nam Á.
Với chính sách giết hết, đốt hết, các viên chỉ huy quân sự Mỹ đã sử dụng những vũ khí ác độc nhất chống lại các thường dân kể cả các vũ khí bị luật pháp quốc tế ngăn cấm như máy bay rải bom B.52, bom xăng đặc, bom lân tinh, những đầu đạn, hơi độc, các hóa chất sát hại mùa màng hoa màu... Ở nhiều nơi, sau khi tàn sát dân chúng bằng những vụ dội bom không phân biệt và nã đại pháo dữ dội, lính Mỹ lại còn tìm cách phun hơi độc làm chết ngạt tất cả những người còn trú ẩn dưới hầm.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Thêm vào lính Mỹ và lính chư hầu hiện đang tham chiến ở miền Nam Việt Nam, Nixon đã ra lệnh rút lính thủy đánh bộ Mỹ từ Nhật Bản đưa qua Việt Nam. Số lính thủy đánh bộ trên các tàu chiến thuộc hạm đội 7 đã gia tăng từ 3.000 lên 8.000, các máy bay chiến thuật đã gia tăng từ 45 tới 130, và 50.000 lính không quân Mỹ.
Chính vì thế, Nguyễn Thái Bình nhanh chóng hòa vào phong trào đấu tranh chống Mỹ trên đất Mỹ dưới nhiều hình thức. Anh hoạt động tích cực trong trường đại học, diễn thuyết tại nhiều cuộc hội thảo, mít tinh của các tổ chức chống chiến tranh ở Mỹ. Anh viết ca khúc chính trị, làm thơ, vẽ tranh và là một trong những cây bút chủ lực của các tờ Thời báo Gà, Niềm tin... phát hành tại nơi này với hàng trăm bài viết nghị luận sắc sảo ký tên Việt Thái Bình. Anh còn viết bài tố cáo tội ác chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam trên báo chí của Hội người Việt Nam ở Mỹ, Canada, Pháp... Anh khẳng định: “Tôi chỉ muốn làm một người Việt Nam bình thường sống trên quê hương tôi thanh bình, độc lập”.
Ngày 10/2/1972, Nguyễn Thái Bình và 9 sinh viên đồng hương Việt Nam chiếm tòa lãnh sự của Việt Nam Cộng hòa ở Quảng trường Liên hợp quốc - New York, phân phát truyền đơn lên án chính sách xâm lược đẫm máu của người Mỹ ở Việt Nam và chính quyền tay sai. Hành động này nhằm thu hút sự chú ý của dư luận quần chúng Mỹ vào 3 đòi hỏi rõ rệt sau: phải thả tù chính trị ở miền Nam Việt Nam; Thiệu phải từ chức; các lực lượng Mỹ phải triệt thoái toàn bộ khỏi Việt Nam, lập tức và vô điều kiện. Anh cùng các bạn bị bắt giữ, điều tra nhưng sau cùng được phóng thích vì Mỹ không muốn anh đạt được mục tiêu thu hút dư luận.
Cùng tháng đó, anh bay qua Illinois để tham gia cuộc biểu tình chống lại cơ quan USAID tại Đại học miền Nam Illinois. Cũng như một số đại học Mỹ khác có móc nối với chính quyền Mỹ để chia tiền viện trợ, Đại học miền Nam Illinois đã nhận tiền của chính quyền Mỹ để thành lập cái gọi là “Nghiên cứu Việt Nam” tại đây. Tiếng là để nhân dân Mỹ có dịp gần gũi với văn hóa Việt, “Trung tâm nghiên cứu Việt Nam” này thực ra nhằm thâu góp những dữ kiện liên quan đến mọi khía cạnh của đời sống Việt Nam hầu chinh phục và bóc lột người Việt một cách tinh vi. Chính vì nhìn rõ những mưu đồ đen tối như vậy của Mỹ mà anh đã hợp tác với các bạn sinh viên Việt - Mỹ đánh thẳng vào nỗ lực tối nguy hiểm này của nó.
Tháng 5/1972, Nguyễn Thái Bình được trao văn bằng tốt nghiệp hạng danh dự của Đại học Washington.
Nguyễn Thái Bình phân phát tờ rơi phản chiến tại Mỹ ngày 26/5/1972.
Trong buổi lễ, anh đã công bố bài “Nợ máu”: “Hôm nay, hàng trăm vụ ném bom bằng B.52, hàng ngàn tấn bom na-pan, bom lân tinh, chất khai quang, tất cả đều đổ lên đầu trẻ thơ vô tội và những người già cả, tàn phá trường học, nhà thờ, chùa chiền, bệnh viện tại Việt Nam. Tôi tin rằng lương tâm nhân loại vẫn còn ở mỗi con người. Tôi kêu gọi tất cả các bạn hãy lên tiếng vì hòa bình, đứng về phía công lý và giúp đỡ cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam nhằm kết thúc cuộc chiến tranh phi nghĩa, phi nhân và tàn bạo này”. Không ngoài tiên liệu, ngày 7/6/1972, Thái Bình nhận được thư của Robert W. Landry, phó phụ tá Giám đốc cơ quan Viện trợ Mỹ (USAID).
Nguyễn Thái Bình cũng đã viết hai lá thư ngỏ cho “Những người yêu hòa bình và công lý trên thế giới” và cho Tổng thống Hoa Kỳ lúc đó là Richard Nixon, trong đó có đoạn: “Thưa ông Tổng thống, để tàn phá, giết chóc, bắn phá ở Việt Nam cũng như Đông Dương, ông nắm trong tay tất cả những vũ khí tối tân, giết người hiệu quả nhất. Còn trong cuộc chiến đấu vì tình thương yêu, hòa bình và công lý, tôi chỉ có lòng tin vào nhân loại... Hiện nay, quả bom duy nhất của tôi là trái tim của tôi. Trái tim này có thể nổ vì tôi chấp nhận hy sinh vì đại nghĩa, để kêu gọi tình thương yêu để khôi phục niềm tin của con người vào công lý...”
ANH NGÃ XUỐNG ĐƯỜNG BĂNG TÂN SƠN NHẤT...
Ngày 2/7/1972, Nguyễn Thái Bình bị trục xuất về nước. Trên chuyến bay Washington - Honolulu - Sài Gòn, khi chỉ còn vài tiếng đồng hồ nữa là máy bay hạ cánh thì gia đình anh, ba mẹ và các anh chị em chắc chắn không ai hiểu điều gì đang và sắp xảy ra. Dù trước đó, trong một lá thư gửi về cho em Bình đã từng viết: “Anh nghĩ thà rằng cho anh làm hạt cát phù sa để bón cho cây lúa của nông dân nghèo còn hơn làm viên kim cương lấp lánh trên tay bà mệnh phụ kênh kiệu, giàu có nhờ tham nhũng và bóc lột.”
Như linh cảm một điều gì không may, Bình rời ghế ngồi, anh tiến lại gần cô tiếp viên, tay vẫn đút túi quần, ôn tồn trao đổi, yêu cầu chuyển hướng máy bay ra Hà Nội. Dường như phi hành đoàn đã hiểu ý anh, dường như họ đang tính toán cần nhắc và dường như anh sắp đạt được ý nguyện của mình...
Anh đã bị giặc Mỹ sát hại khi máy bay vừa hạ cánh xuống phi trường Tân Sơn Nhất sau khi nhận 5 phát đạn chí mạng vào người.
Sự hy sinh của Nguyễn Thái Bình không hề vô nghĩa, nó là lời hiệu triệu được viết bằng sinh mệnh, là tiếng sét giữa trời. Toàn thể sinh viên trong và ngoài nước nhất loạt đứng lên kêu gọi hòa bình và công lý, niềm tiếc thương vô hạn và sự khâm phục người thanh niên tài năng quả cảm đã tiếp thêm sức mạnh cho đồng đội. Các tầng lớp nhân sĩ trí thức Việt Kiều cũng không thể thờ ơ khoanh tay đứng nhìn như người ngoài cuộc. Các trường đại học tại Mỹ nơi anh đã đi qua đều tổ chức tưởng niệm hằng năm như một cách tri ân người anh hùng dân tộc.
Trái tim của người thanh niên yêu nước Nguyễn Thái Bình đã nổ tung, từ cách đây gần 40 năm; nhưng những mảnh vỡ mà nó để lại đã trở thành kim cương vĩnh cửu.


