Bài viết

NGUYỄN THÁI HỌC – VỊ LÃNH TỤ KIÊN TRUNG CỦA VIỆT NAM QUỐC DÂN ĐẢNG VÀ BI HÙNG KÝ KHỞI NGHĨA YÊN BÁI

Hải Phòng14/08/2026Lê Thị Thanh Vân ((LĐ) Đoàn phường Lang Biang - Đà Lạt)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

NGUYỄN THÁI HỌC – VỊ LÃNH TỤ KIÊN TRUNG CỦA VIỆT NAM QUỐC DÂN ĐẢNG VÀ BI HÙNG KÝ KHỞI NGHĨA YÊN BÁI

Trong dòng chảy gian truân nhưng đầy kiêu hãnh của lịch sử giải phóng dân tộc Việt Nam đầu thế kỷ XX, Nguyễn Thái Học hiện lên như một biểu tượng xả thân vĩ đại của thế hệ trí thức Tây học.

Sinh ngày 30 tháng 12 năm 1902 tại làng Thổ Tang, tổng Lương Điền, phủ Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên (nay là thị trấn Thổ Tang, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc), ông lớn lên trong một gia đình trung nông làm ruộng và buôn vải. Ngay từ năm 4 tuổi, ông đã được cha mẹ cho gia giáo học chữ Hán. Đến năm 11 tuổi, ông bước vào hệ thống giáo dục tiểu học Pháp - Việt tại thị xã Vĩnh Yên.​

Sau khi tốt nghiệp Trường Cao đẳng Tiểu học, vào năm 1921 (khi 19 tuổi), Nguyễn Thái Học xuất sắc thi đỗ vào Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội và được nhận học bổng của Chính phủ Bảo hộ Pháp. ​Suốt ba năm học tại đây, người thanh niên đất Vĩnh Yên đã nhiều lần công khai đối đầu với thái độ phân biệt chủng tộc, miệt thị người bản xứ của các giám thị và giáo viên người Pháp, khiến trùm mật thám Louis Marty thời bấy giờ từng phải nhận xét: “Nguyễn Thái Học là một học sinh bướng bỉnh, hay cãi lại thầy giáo”. Vì không chấp nhận lối giáo dục nô dịch này, ông quyết định bỏ học vào năm thứ ba (1924).

​Năm 1924, ông khước từ danh vọng của một công chức trong bộ máy thuộc địa để tiếp tục thi vào trường Cao đẳng Thương mại thuộc Đại học Đông Dương. Chính tại giảng đường đại học này, giữa lúc phong trào yêu nước đòi ân xá cụ Phan Bội Châu và quốc tang cụ Phan Chu Trinh đang sục sôi khắp cả nước, Nguyễn Thái Học đã tìm thấy lối đi cho cuộc đời mình khi kết giao với những tâm hồn đồng điệu như Phó Đức Chính, Hồ Văn Mịch tại Nam Đồng Thư xã — một nhà xuất bản tiến bộ chuyên lan truyền tư tưởng cách mạng.

Ban đầu, với bầu máu nóng của một trí thức trẻ, Nguyễn Thái Học nuôi hy vọng dùng con đường cải cách ôn hòa để thay đổi số phận thuộc địa. Từ năm 1925 đến năm 1927, ông liên tiếp gửi thư cho Toàn quyền Đông Dương Alexandre Varenne và Thống sứ Bắc kỳ để đề xuất các dự án canh tân kinh tế, bảo hộ công thương bản xứ, xin lập trường Cao đẳng Công nghệ và ra tờ bán nguyệt san Nam Thanh nhằm nâng cao dân trí.

Tuy nhiên, sự im lặng tàn nhẫn và những lời khước từ của chính quyền thực dân đã đập tan ảo tưởng hòa bình trong ông. Nhận ra rằng kẻ cướp nước đem sắt máu đến đô hộ thì người yêu nước không thể khoanh tay đối phó với súng đạn, Nguyễn Thái Học quyết định dứt bỏ bút nghiên để dấn thân vào con đường bạo động vũ trang.

Vào tối ngày 25 tháng 12 năm 1927, Việt Nam Quốc dân Đảng chính thức được thành lập tại Hà Nội với nòng cốt là nhóm Nam Đồng Thư xã, và Nguyễn Thái Học được đồng lòng bầu làm Chủ tịch Đảng. Dưới sự chèo lái của ông, đảng phát triển nhanh chóng, kết nạp hàng ngàn trí thức, giáo viên, nông dân và cả những binh lính người Việt trong quân đội Pháp, mở rộng địa bàn từ Bắc Kỳ vào đến tận Nam Kỳ.

Giữa lúc tổ chức đang trên đà lớn mạnh nhưng kết cấu còn lỏng lẻo, một bước ngoặt ngoài ý muốn đã xảy ra. Ngày 9 tháng 2 năm 1929, một nhóm đảng viên tự ý ám sát tên trùm mộ phu đồn điền độc ác Bazin tại Chợ Hôm, Hà Nội. Vụ bạo động làm chấn động dư luận Pháp và châm ngòi cho một chiến dịch "khủng bố trắng" tàn khốc của thực dân Pháp. Hàng trăm đảng viên bị bắt, cơ sở đảng bị phá tan hoang, riêng linh hồn của đảng là Nguyễn Thái Học bị treo thưởng 5.000 đồng bạc Đông Dương cho ai lấy đầu hoặc bắt sống.

Lâm vào thế ngặt nghèo trước nguy cơ bị tiêu diệt hoàn toàn, Nguyễn Thái Học cùng bộ chỉ huy gồm Nguyễn Khắc Nhu và Phó Đức Chính đưa ra một quyết định lịch sử tại hội nghị tháng 7 năm 1929: Không thể ngồi yên chờ chết mà phải phát động một cuộc tổng khởi nghĩa vũ trang, bởi lẽ dẫu có thất bại thì cũng quyết lòng "Không thành công cũng thành nhân".

Dù lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc từ Xiêm đã vội vã tìm cách về Nam Trung Quốc để khuyên hoãn binh do thời cơ chưa chín muồi, nhưng guồng quay lịch sử đã không thể dừng lại. Đêm mồng 9, rạng sáng ngày 10 tháng 2 năm 1930, tiếng súng khởi nghĩa đồng loạt nổ ra tại Sơn Tây, Lâm Thao, Phú Thọ và đỉnh cao là Yên Bái, nơi quân nổi dậy làm chủ tỉnh lỵ gần hai ngày. Do hệ thống liên lạc bị thực dân Pháp đánh chặn, cánh quân miền xuôi của Nguyễn Thái Học không kịp phối hợp nhịp nhàng, khiến cuộc nổi dậy ở miền núi nhanh chóng bị cô lập và dập tắt trong bể máu. Không đầu hàng số phận, ngày 15 tháng 2, ông tiếp tục phát động nổi dậy ở miền xuôi tại Phụ Dực (Thái Bình) và Vĩnh Bảo (Hải Dương) nhưng mọi nỗ lực đều bất thành.

Ngày 20 tháng 2 năm 1930, Nguyễn Thái Học bị giặc bắt tại ấp Cổ Vịt. Hội đồng Đề hình thực dân nhanh chóng tuyên án tử hình ông cùng các đồng chí cốt cán. Ngày 17 tháng 6 năm 1930, pháp trường Yên Bái chứng kiến một trong những khoảnh khắc bi tráng nhất của lịch sử dân tộc. Nguyễn Thái Học bước lên máy c.h.é.m với phong thái ung dung, chiếc đầu rơi xuống sau tiếng hô vang chấn động: "Việt Nam vạn tuế!". Chỉ một ngày sau đó, người vợ chưa cưới kiêm đồng chí kiên trung của ông là Cô Giang (Nguyễn Thị Giang) cũng đã dùng s.ú.n.g t.ự s.á.t tại quê nhà Thổ Tang để vẹn toàn khí tiết với nước nhà và tình yêu.

Sự hy sinh của Nguyễn Thái Học cùng các chiến sĩ Yên Bái tuy không lật đổ được ách thống trị của thực dân Pháp ngay lúc đó, nhưng đã để lại một dấu son chói lọi, thức tỉnh tinh thần ái quốc của toàn thể nhân dân Việt Nam. Ghi nhận công lao vĩ đại này, ngày 24 tháng 2 năm 1976, Nhà nước Việt Nam đã chính thức công nhận ông là Liệt sĩ, và vào năm 2003, các nhà khoa học đã trân trọng tôn vinh chí sĩ Nguyễn Thái Học là một Anh hùng dân tộc, để tên tuổi ông sống mãi cùng non sông đất nước.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn