NGUYỄN THÁI HUYỀN – NGƯỜI GIỮ KÝ ỨC VỀ MÙA THU LỊCH SỬ Ở ĐÀ LẠT
ó những con người đi qua lịch sử không phải với tư cách của một vị tướng hay một nhà lãnh đạo, mà bằng chính những bước chân rất đỗi bình dị của mình. Họ đã có mặt ở những thời khắc quan trọng, chứng kiến những sự kiện làm thay đổi vận mệnh quê hương, rồi mang theo những ký ức ấy suốt cuộc đời.
Nguyễn Thái Huyền là một người như thế.
Ông sinh năm 1928, quê gốc ở xã Văn Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Năm 1935, khi mới là một cậu bé, ông theo cha mẹ vào Đà Lạt sinh sống. Gia đình ông là một trong những gia đình người Nghệ Tĩnh đến vùng đất này khai hoang, lập ấp. Sau này, khu dân cư ấy trở thành ấp Nghệ Tĩnh, một địa danh gắn với cộng đồng những người con quê hương Xô viết Nghệ Tĩnh trên đất Đà Lạt.
Đà Lạt trong ký ức tuổi thơ của Nguyễn Thái Huyền không chỉ là thành phố của thông xanh, sương lạnh và những con dốc quanh co. Đó còn là một vùng đất đang trong quá trình hình thành, nơi những người dân từ nhiều miền quê tìm đến lập nghiệp và mang theo trong mình truyền thống yêu nước, tinh thần đấu tranh của quê hương.
Năm 1940, ấp Nghệ Tĩnh được thành lập với hơn 70 hộ và hơn 400 nhân khẩu. Giữa ấp, đình Nghệ Tĩnh được dựng lên và trở thành nơi sinh hoạt của cộng đồng, đồng thời cũng là một địa điểm gắn với hoạt động bí mật của những người cách mạng. Nhà của Nguyễn Thái Huyền cũng từng nuôi giấu một cán bộ cách mạng. Chính trong hoàn cảnh ấy, cậu bé Huyền bắt đầu được những người cán bộ chú ý và dìu dắt tham gia hoạt động.
Khi ấy, ông còn rất trẻ.
Nhưng tuổi nhỏ không có nghĩa là đứng ngoài lịch sử.
Những chiều tan học, cậu bé Nguyễn Thái Huyền đi ngang qua những bốt đồn của Pháp và Nhật để quan sát tình hình. Công việc của một người liên lạc tưởng như rất đơn giản, nhưng trong hoàn cảnh lúc bấy giờ lại đòi hỏi sự nhanh nhẹn, kín đáo và lòng can đảm.
Ông làm nhiệm vụ đưa thư cho tổ chức, chuyển những thông tin cần thiết và từng bước trở thành một mắt xích nhỏ trong hoạt động cách mạng tại Đà Lạt.
Những ký ức ấy theo ông suốt cuộc đời.
Năm 1945, khi Nhật đảo chính Pháp và tình hình chính trị thay đổi nhanh chóng, Nguyễn Thái Huyền đang học ở Nha Trang đã trở về Đà Lạt tiếp tục hoạt động. Ông tham gia công tác liên lạc và sau đó làm điện thoại viên, giao liên nội bộ cho Ủy ban Nhân dân Cách mạng lâm thời tỉnh Lâm Viên.
Và rồi mùa thu năm ấy đến.
Đó là mùa thu mà hàng triệu người Việt Nam sau này sẽ mãi mãi nhớ đến.
Tại Đà Lạt, phong trào cách mạng dâng lên mạnh mẽ. Nguyễn Thái Huyền là một trong những người trực tiếp có mặt trong dòng người tham gia cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền.
Hơn bảy mươi năm sau, khi kể lại những ngày tháng ấy, ký ức trong ông vẫn còn nguyên cảm xúc.
Ông nhớ không khí sục sôi của thành phố. Nhớ những người dân từ nhiều tầng lớp cùng hướng về một mục tiêu chung. Nhớ những người con của ấp Nghệ Tĩnh đã góp sức vào phong trào. Và đặc biệt, ông nhớ khoảnh khắc dòng người tiến về khu Hòa Bình trong khí thế của một thành phố đang đứng lên giành chính quyền.
Đó là một trong những thời khắc mà ông không bao giờ quên.
Một cậu bé từng làm nhiệm vụ đưa thư đã trở thành nhân chứng của ngày Đà Lạt bước vào mùa thu độc lập.
Nhưng lịch sử không dừng lại ở đó.
Sau khi chính quyền cách mạng được thành lập, quân Pháp quay trở lại tái chiếm Đà Lạt. Những người tham gia cách mạng bị truy bắt. Có người bị bắt, có người phải rút vào chiến khu.
Để tránh sự truy lùng của địch, Nguyễn Thái Huyền trở về Nghệ An.
Nhưng ông không rời bỏ con đường đã lựa chọn.
Trong những năm kháng chiến chống Pháp, ông tham gia hoạt động cách mạng và sau đó gia nhập quân đội. Ông từng công tác tại Văn phòng Liên khu 4 rồi được điều động ra Tổng cục Quân khí, đóng tại An toàn khu ở Thái Nguyên.
Rồi chiến dịch Điện Biên Phủ diễn ra.
Nguyễn Thái Huyền tham gia Đội 217, thực hiện nhiệm vụ chống bom nổ chậm trên đèo Pha Đin. Đó là một nhiệm vụ nguy hiểm trong chiến dịch mà cả dân tộc đang dồn sức cho trận quyết chiến chiến lược.
Những con người như ông không trực tiếp đứng trong những trận đánh lớn nhất nhưng công việc của họ góp phần bảo đảm con đường, phương tiện và hậu cần cho chiến trường.
Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 khép lại cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Nhưng đối với Nguyễn Thái Huyền, những năm tháng chiến đấu vẫn chưa kết thúc.
Năm 1962, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn ngày càng ác liệt, ông được Tổng cục Bưu điện điều động vào Bưu điện Quảng Bình. Tại đây, ông tham gia công tác giao bưu, góp phần duy trì huyết mạch thông tin trên tuyến đường Trường Sơn.
Một người từng đưa những lá thư bí mật ở Đà Lạt khi còn là cậu bé, sau này lại tiếp tục làm công việc bảo đảm thông tin trong một cuộc chiến tranh khác.
Cuộc đời ông vì thế gắn với những đường dây liên lạc, những lá thư, những thông tin và những con đường nối con người với con người trong những năm tháng đất nước còn chia cắt.
Sau ngày đất nước thống nhất năm 1975, Nguyễn Thái Huyền trở lại Lâm Đồng. Ông làm việc tại Bưu điện tỉnh Lâm Đồng và tiếp tục gắn bó với Đà Lạt – mảnh đất mà ông đã đến từ năm 1935 và xem như quê hương thứ hai của mình.
Nhưng có lẽ điều đặc biệt nhất trong những năm tháng sau này của ông chính là việc ghi lại ký ức.
Khi tuổi ngày càng cao, ông nhận ra rằng những người từng trực tiếp trải qua chiến tranh rồi sẽ lần lượt rời khỏi cuộc đời. Nếu không ghi lại, những câu chuyện về một Đà Lạt trong những năm tháng đấu tranh sẽ dần biến mất.
Vì vậy, ông bắt đầu viết.
Những ký ức của người từng sống trong thời chiến được ông đưa vào các tác phẩm văn học. Những cuốn tiểu thuyết như “Nội tuyến A3”, “Mai Anh Đào”, “Thám tử đội Hướng Dương” không chỉ là những câu chuyện trinh thám, tình báo. Đằng sau những trang viết ấy là ký ức về phong trào đấu tranh của công nhân, học sinh, sinh viên, tiểu thương Đà Lạt trong những năm chống Mỹ và những câu chuyện về Đà Lạt từ những ngày Cách mạng Tháng Tám.
Để viết, ông không chỉ dựa vào trí nhớ.
Ông tìm gặp những cán bộ lão thành cách mạng, những người từng hoạt động tại các tỉnh khu VI, những chiến sĩ tiền khởi nghĩa và thu thập thêm tư liệu. Riêng cuốn “Thám tử đội Hướng Dương”, ông dành khoảng ba năm để tìm hiểu tư liệu và hoàn thiện bản thảo.
Có thể nói, Nguyễn Thái Huyền đã dùng một cách rất riêng để lưu giữ lịch sử.
Ông dùng ký ức của một người trong cuộc để viết lại ký ức của cả một thế hệ.
Qua những trang sách của ông, Đà Lạt hiện lên không chỉ là một thành phố đẹp mà còn là một thành phố được tạo dựng bởi mồ hôi, nước mắt và cả máu của nhiều thế hệ người dân.
Đó cũng chính là lý do câu chuyện về Nguyễn Thái Huyền rất phù hợp với việc sưu tầm “Những câu chuyện thời hoa lửa”.
Bởi ông vừa là nhân chứng lịch sử, vừa là người lưu giữ ký ức lịch sử.
Ông đã chứng kiến Cách mạng Tháng Tám ở Đà Lạt. Ông từng làm giao liên khi còn nhỏ. Ông tham gia kháng chiến chống Pháp, góp sức trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Ông tiếp tục phục vụ trong kháng chiến chống Mỹ và sau ngày đất nước thống nhất lại trở về Đà Lạt.
Một cuộc đời đi qua gần như trọn vẹn những biến động lớn của đất nước trong thế kỷ XX.
Nhưng có lẽ điều khiến người ta xúc động nhất không phải là những chức vụ hay những thành tích trong cuộc đời ông.
Đó là mong muốn rất giản dị mà ông từng chia sẻ: muốn để lại cho đời sau một điều gì đó có ích.
Và ông đã thực hiện điều đó bằng những trang viết.
Ngày hôm nay, khi thế hệ trẻ bước đi trên những con đường bình yên của Đà Lạt, có thể các em không còn hình dung được thành phố này đã từng trải qua những ngày tháng như thế nào.
Nhưng qua câu chuyện của Nguyễn Thái Huyền, các em có thể hiểu rằng lịch sử không phải là những điều xa xôi.
Lịch sử có thể là một cậu bé đi qua bốt đồn để đưa một lá thư.
Lịch sử có thể là một dòng người tiến về khu Hòa Bình trong mùa thu năm 1945.
Lịch sử có thể là những người lính trên đèo Pha Đin giữa chiến dịch Điện Biên Phủ.
Lịch sử cũng có thể là một người cán bộ làm công tác giao bưu trên tuyến đường Trường Sơn.
Và lịch sử cũng có thể là một ông già ngồi bên bàn viết, cố gắng ghi lại những gì mình đã chứng kiến trước khi ký ức của một thế hệ phai nhạt theo thời gian.
Nguyễn Thái Huyền đã sống trong lịch sử, chiến đấu trong lịch sử và sau này dùng ngòi bút để kể lại lịch sử.
Câu chuyện của ông vì thế không chỉ là câu chuyện về một người.
Đó là câu chuyện về một thế hệ những người con đã dành tuổi trẻ cho độc lập, thống nhất của đất nước, đồng thời là lời nhắc nhở thế hệ hôm nay phải biết trân trọng những ngày tháng hòa bình.
Có những người đã dùng tuổi trẻ để làm nên lịch sử. Có những người dùng phần đời còn lại để kể lại lịch sử. Nguyễn Thái Huyền là một trong những người như thế.



