Nguyễn Thành
Tháng 12 năm 1971, toàn Trung đoàn trong đội hình sư đoàn 320, tiến sâu vào trong chiến trường. Trung đoàn đã mang phân hiệu của trung đoàn 52 (đoàn Tây Tiến) cùng toàn sư đoàn 320 (đoàn Đồng Bằng) lên đường hành quân vượt Trường Sơn vào Tây Nguyên.
Lễ xuất quân được tổ chức vào buổi sáng trong cánh rừng sâu của Quảng Trị, giáp với nước Lào. Cùng ngày, Trung đội trưởng Trung đội 2 của tôi là anh Trần Vi, người cùng huyện Tiên Lữ, với lý do sức khỏe được trở về hậu phương. Tôi không nhắn nhủ gì Vi cả, chỉ chúc lên đường bình an.Tình hình của tôi vẫn không sáng sủa gì, mặc dù bao giờ cũng là người xuất sắc của đơn vị. Không được bổ nhiệm chức vụ mới vì là con địa chủ, không được vào Đảng. Nhiều khi nghĩ buồn thay cho chính mình. Mọi cố gắng hầu như vô vọng, len lỏi tư tưởng tiêu cực… Nhật ký ngày 8-12-1971 ghi: … “Như vậy còn hi vọng gì nữa, trời cao lắm, đất sâu lắm, ai có thể hiểu được nỗi lòng này. Người ta không tin mình nữa thì mình làm để làm gì…”May mà cái suy nghĩ tiêu cực, bồng bột của “hắn” xen đôi chút tự ái ấy qua nhanh trong công việc gấp rút chuẩn bị hành quân, vào sâu chiến trường.Tôi vẫn rất thanh thản ra đi, không ngại ngần. Trước ngày ra đi nhận thư nhà, thư của chị gái, trong đó có báo tin buồn: cậu em con chú ruột tôi: Phạm Văn Bằng học xong Đại học đại chất, vào bộ đội năm 1970 và đã hy sinh ngày 15-3-1971 ở Nam Lào. Thế là gia đình chú ruột tôi đã ba người hy sinh trong cuộc kháng chiến này. Sau này theo chế độ, thím tôi được tặng danh hiệu “Bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng”. Chị cũng báo tin anh ruột: anh Phạm Văn Điều đang là giáo viên cấp hai, đã có lệnh gọi nhập ngũ, không biết tháng nào sẽ lên đường. Sau này anh vào lính sư đoàn 325 đánh Quảng Trị và hy sinh ngày 5-8-1972.Ngày 17-12-1971, nhật ký hôm đó ghi là: “… bảy giờ sáng xuất phát, leo qua cái dốc khá cao. Tối sang bên này dốc. Đây là đất Lào thuộc tỉnh Xavanaket, mình mệt lử, không buồn bước nữa…”Với tôi đây là cuộc hành quân bộ lần thứ hai vượt Trường Sơn vào chiến trường. Nếu tính cả lần đi ra thì phải nói đây là lần thứ ba vượt Trường Sơn. Cuộc đời không thể ngờ được là vậy. Điều mong thì không tới. Kái không mong thì ập đến nhanh không ngờ.Cuộc hành quân lần này có khá hơn là đã có các trạm rõ rệt. Đường đi cũng được xác định tốt hơn, ít dốc hơn. Thời điểm hành quân là mùa khô, trên đất Nam Lào bỏng rát. Khổ nhất là thiếu nước uống. Một bi đông đựng một lít nước, hành quân một ngày không thể không khát, nhiều khi chỉ dám nhấp môi cho đỡ nứt nẻ thôi. Đời lính là vậy.Ngày 28-12-1971 vào tới trạm 31, trên đất Lào. Gặp đồng chí tiểu đoàn trưởng cũ của thời vượt Trường Sơn lần thứ nhất: anh Nguyễn Thành, nói chuyện với anh ấy gần hai tiếng đồng hồ, hỏi đủ chuyện đơn vị cũ giờ ra sao, nay thế nào. Khi chia tay, anh Thành bảo: “Sao bị thương, ra đó rồi mà không chuyển ngành, phục viên, sao lại vào đây nữa à?” Nhật ký hôm đó ghi lại: “câu hỏi gợi nên nỗi đau xót. Mình không trả lời tiểu đoàn trưởng cũ được!”Hành quân! Gian khổ, đói, bệnh tật, chết chóc luôn đồng hành với người lính. Nhật ký ngày 31-1-1972 ghi: “Nghỉ lại T63. Nạn đói bắt đầu đe dọa, bệnh phù bắt đầu chớm. Mình bị phù, mặt mũi to béo hẳn lên!”Ngày 1-2-1972, vượt biên giới Lào sang Campuchia. Đi thêm 2 ngày nữa rồi rẽ về phía Đông trở lại Việt Nam. Ngày 4-2 về tới đất Việt. Lệnh tạm dừng, học chính trị. Có thể coi đây là trạm cuối cùng hành quân đợt này.Đây là tỉnh Kon Tum. Nhật ký hôm ấy ghi lại: “… triển khai xong toàn bộ hầm hố, ngày mai vào đợt công tác mới. Người mỏi mệt quá chừng, nghiến răng chịu đựng, mong ngày tháng chóng trôi đi… »Khu vực này B52, máy bay bổ nhào phản lực oanh tạc liên tục, khác cái là không có trực thăng vũ trang thôi. Bắt đầu căng thẳng rồi đấy.Tết sắp đến rồi. Ngoài ấy bây giờ chắc rộn rịp lắm…. Nhớ lắm người ơi!Tết đến! Tết Nhâm Tý! Đêm 30 Tết tức là ngày 14-2-1972, Nhật ký ngày ấy ghi tâm sự rằng: “…Tết đến rồi ư! Mùa xuân đã gọi rồi ư! Ở quê hương hôm nay đẹp và vui biết nhường nào! Ai có thấu hiểu được nỗi lòng xa quê hương của những đứa con xa nhà! Công việc hôm nay của những người lính không khác gì những ngày đã qua. Anh em ngồi với nhau, bảo nhau: Bây giờ đã ba mươi Tết rồi à? … Bây giờ chúng tôi chỉ ước rằng: được bữa cơm lo thôi, bởi vì ngày hôm nay cũng như ngày đã qua đã ăn đói rồi. Còn Tết chẳng có một cái gì!Vần thơ mộc mạc đêm giao thừa ấy nói hộ tâm sự của mình:… Lại đón xuân giữa núi rừng đất lạKhông mùi hương, không hoa lá reo cườiVắng tiếng thân thương - mẹ hiền tuổi sáu mươiĐêm giao thừa, kể cho con nghe… những mủa xuân về trước…… Con muốn quên đi, nhưng mùa xuân cứ lạiCứ chập chờn trước mắt những xuân xưaDưới nếp nhà trang, gội nắng, gội mưaẤm áp, quyện mùi thơm ngày Tết đến…….Xuân rối đấy, mùa phản công đã đếnGác lại mùa xuân, xin đón đợi xuân sauỞ cố hương, có mẹ hiền, hoa đẹpCó người thương, Nam Bắc nối nhịp cầu…”Và cũng giao thừa Nhâm Tý, tôi đã viết thư cho mẹ vào cuốn nhật ký. Hôm nay đọc lại, tôi lại thấy nôn nao cõi lòng nơi sâu thẳm. …”Mẹ ơi! Con biên là thư này với dòng chữ quen thuộc của đứa con út đã bảy năm xa mẹ từ nơi đất khách quê người, nơi rừng núi trùng điệp của vùng ba biên giới Việt – Lào – Khơ Me. Con đang ngồi viết đây, trên đầu con phản lực Hoa Kỳ đang gầm rít, ném bom bắn phá ngay gần vị trí con đang ở. Và căn nhà con đang ngồi bây giờ là chiếc hầm kèo chôn trong lòng đất, nhỏ đủ để người nằm, cao đủ để người ngồi.Xuân Nhâm Tý sắp đến! Và chúng con đón xuân bằng tình cảm và lý trí, bằng tưởng tượng trong khối óc… Và chúng con cũng đang mong đợi, đón cả mùa xuân chiến thắng.Khi ra đi, và có lẽ lúc nào mẹ cũng dặn con là cố gắng cho bằng anh bằng em. Con hiểu lắm. Song con nghĩ đến tương lai của con, nghĩ đến mộng ước của con vẫn đang dở dang, con lại tự nguyện lao vào khói lửa, trong cái chết tìm ra cái sống, cái thật để trả lời hiện tại… Sóng gió đối với con có lẽ không bao giờ dừng, hay số phận con là như vậy.Mẹ ơi! Xuân mới sắp đến rồi mẹ ơi! Giao thừa đã sắp điểm. Tất cả là như vậy. Song con không bao giờ nản chí ! Không bao giờ chịu khuất phục trước giông tố cuộc đời mẹ nhé! Mẹ đừng buồn khi con ra đi…


