Nguyễn Thanh Nha
Ông Nguyễn Thanh Nha (1919–1972), quê Đồng Tháp, là nghệ sĩ và soạn giả cải lương tiêu biểu của sân khấu cách mạng. Ông có nhiều đóng góp trong sáng tác, đào tạo văn nghệ và phục vụ kháng chiến, để lại nhiều tác phẩm giá trị và được truy tặng Giải thưởng Nhà nước.
Ông Nguyễn Thanh Nha sinh ngày 20/4/1919, là con một gia đình nghèo ở ấp Hạ, làng Mỹ Trà, quận Cao Lãnh, tỉnh Sa Đéc (nay là phường 2, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp).
Sau khi đậu tiểu học (năm 1932), ông học Trường Trung học Mỹ Tho rồi thi đậu vào Trường Cao đẳng Mỹ thuật Gia Định. Ra trường, ông làm nghề vẽ ở Cao Lãnh và Kompong Chàm (Campuchia).
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, ông trở về quê tham gia dân quân và vào Đồng Tháp Mười kháng chiến chống Pháp. Vốn có tay nghề vẽ giỏi, ông được giao vẽ mẫu để khắc gỗ in bạc của ta (thay cho bạc Pháp), góp phần nuôi các lớp huấn luyện quân sự. Sau đó, ông được rút lên Khu 8 làm Trưởng ban Mỹ thuật của Phòng Chính trị.
Năm 1951, ông lên miền Đông, công tác Văn nghệ thuộc Phòng Chính trị Phân liên khu. Năm 1952, ông trở về tỉnh nhà Long Châu Sa làm Phó đoàn Văn công Ngũ Yến vừa thành lập. Vốn hiểu biết ca cổ và các loại đờn dân tộc, ông bắt tay viết các chập và hai vở cải lương dài "Chung sức diệt thù", "Thoát vòng đau khổ", làm tiết mục biểu diễn cho đoàn. Vừa soạn vở, ông vừa làm nhạc công và cả diễn viên.
Tập kết ra Bắc, ông là thành viên sáng lập Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam (1957) và được bầu làm Phó Tổng thư ký Hội, Uỷ viên Đảng đoàn Hội. Gần 20 năm trên đất Bắc là thời gian ông chuyên hoạt động sân khấu và tài năng viết vở bật sáng, tiêu biểu là các vở cải lương "Tình riêng nghĩa cả", "Khuất Nguyên" do Đoàn Văn công Nam Bộ diễn và vở "Tiếng sấm Tây Nguyên" do Đoàn Dân ca Liên khu V biểu diễn, với bút danh Thanh Nha.
Ông được Bộ Văn hóa chuyển về công tác tại Ban Nghiên cứu Sân khấu, vừa sáng tác kịch bản vừa sáng tác âm nhạc phục vụ vở diễn. Ông biên soạn tập bản đờn ca cổ nhạc, được xem là mẫu mực cho nghề nghiệp cải lương.
Đến năm 1964, ông trở về Nam, được cử làm Uỷ viên Tiểu ban Văn nghệ miền Nam, chủ trì ngành sân khấu cải lương Hội Văn nghệ Giải phóng. Vừa sáng tác, ông vừa tham gia giảng dạy các lớp sáng tác, diễn viên... ở Trường Văn nghệ giải phóng, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ văn nghệ cho Đoàn Văn công Giải phóng Miền và các tỉnh. Ông sáng tác nhiều bài ca lẻ, chập cải lương ngắn, làm tiết mục cho các đoàn Văn công biểu diễn và phục vụ phong trào văn nghệ quần chúng, như "Lời mẹ dặn", "Lay tỉnh bố ông đại diện", "Lòng mẹ", "Xông ra diệt Mỹ", "Nước mắt người thân"... với bút danh Trần Ngọc.
Cuối năm 1965, ông được về quê hương đi thực tế sáng tác. Tại đây, ông viết một loạt chập cải lương cho Đoàn Văn công Tiền Giang của tỉnh nhà Kiến Phong, như "Tình phụ tử", "Bám đất", "Chông gài sai chỗ", "Chiếc máy đuôi tôm", "Anh sui chị sui"... được đồng bào nhiệt liệt hoan nghênh. Trở về R, ông viết vở cải lương dài "Trong lửa đỏ" ca ngợi những gương dũng cảm của bộ đội ta trong trận Tổng tấn công Xuân Mậu Thân - 1968.
Ông lâm bệnh nặng và qua đời ngày 23/10/1972, hưởng dương 53 tuổi. Ông là người có công lớn đối với ngành sân khấu cách mạng Việt Nam. Ông được khen thưởng Huân chương Quyết thắng hạng Nhất, Huy chương Kháng chiến hạng Nhất và Huân chương Chiến thắng hạng Ba.
Ngày 27/4/2012, Chủ tịch nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam tặng Giải thưởng Nhà nước cho soạn giả Thanh Nha với cụm tác phẩm: Chung sức diệt thù (cải lương), Thoát vòng đau khổ (dân ca), Tiếng sấm Tây Nguyên (cải lương), Tình riêng nghĩa cả (sân khấu), Trong lửa đỏ (sân khấu).



