Nguyễn Thanh Tùng – Cánh chim đầu đàn của đặc công miền Đông
Tác giả: Nguyễn Thị Minh Trang

Câu chuyện về Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân (AHLLVTND) Nguyễn Thanh Tùng, hay còn được gọi với cái tên thân mật là Chín Tùng, là một bản anh hùng ca về lòng quả cảm, sự mưu trí và tinh thần tận hiến cho độc lập dân tộc.
Sinh ra tại vùng đất Tây Ninh trung dũng, cuộc đời binh nghiệp của ông bắt đầu bằng một hành trình thầm lặng nhưng đầy ý chí. Tháng 11 năm 1961, người thanh niên trẻ tuổi mang quân hàm Thiếu úy đã cùng đồng đội rời miền Bắc, hành quân bí mật trở về Nam để tham gia kháng chiến chống Mỹ. Ngay từ những ngày đầu, ông đã bộc lộ tài năng chỉ huy thiên bẩm. Năm 1964, trên cương vị Chính trị viên phó Tiểu đoàn 46 trinh sát Miền, ông trực tiếp chỉ huy đơn vị đánh chiếm đài truyền tin của địch trên đỉnh núi Bà Rá. Trận đánh kết thúc thắng lợi rực rỡ khi ta không chỉ chiếm lĩnh đỉnh núi để đặt đài quan sát phục vụ các chiến dịch lớn như Bình Giã, Đồng Xoài, mà còn bắt gọn toàn bộ trung đội địch trực chiến.
Bước ngoặt lớn nhất trong cuộc đời chỉ huy của ông chính là sự ra đời của Trung đoàn Đặc công 113 vào ngày 3 tháng 6 năm 1972. Với tư cách là Trung đoàn trưởng đầu tiên, ông đã dẫn dắt một đơn vị non trẻ, vừa tổ chức lực lượng vừa huấn luyện, thực hiện những trận đánh đi vào huyền thoại của binh chủng Đặc công.
Nhắc đến Chín Tùng là nhắc đến nỗi khiếp sợ của kẻ thù tại sân bay Biên Hòa và tổng kho Long Bình. Đêm mồng 2 rạng sáng ngày 3 tháng 8 năm 1972, dưới sự chỉ huy của ông, hỏa lực của Trung đoàn 113 đã dội dồn dập vào sân bay quân sự cấp 1 lớn nhất miền Nam bấy giờ. Trận pháo kích bất ngờ khiến kẻ thù không kịp trở tay, phá hủy 74 máy bay và hàng loạt kho tàng, công sự, khiến thị xã Biên Hòa rúng động.
Chưa đầy mười ngày sau, ông lại tiếp tục "hỏa thiêu" tổng kho Long Bình – căn cứ hậu cần chiến lược khổng lồ của Mỹ. Đây là trận đánh bằng phương pháp phá hủy bí mật với quy mô lớn nhất thời bấy giờ. Đích thân Trung đoàn trưởng Nguyễn Thanh Tùng đã đi tiền trạm, nghiên cứu kỹ từng quy luật tuần tra của địch. Vào lúc 4 giờ 30 phút sáng ngày 13 tháng 8, các khối bộc phá C4 đồng loạt phát hỏa, biến khu kho 53 thành một biển lửa với 150.000 tấn bom đạn bị phá hủy. Sức công phá lớn đến nỗi quân Mỹ phải ngừng bắn pháo suốt một tuần lễ vì cạn kiệt đạn dự trữ. Hai chiến công hiển hách này đã góp phần quan trọng đánh bại chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", buộc địch phải ký Hiệp định Paris.
Không dừng lại ở đó, tinh thần "thần tốc" của ông một lần nữa được khẳng định vào mùa xuân năm 1975. Khi đang học tại Học viện Quân sự cao cấp ở Hà Nội, ông đã tức tốc lên máy bay, rồi đi xe thẳng vào Lộc Ninh để kịp tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh. Với cương vị Sư đoàn phó Sư đoàn 2 Đặc công, ông chỉ huy các mũi tấn công đánh chiếm trung tâm truyền tin Phú Lâm, căn cứ Tân Tạo... góp phần mở toang cánh cửa phía Tây, đưa đoàn quân giải phóng tiến vào Sài Gòn, giành thắng lợi hoàn toàn.
Với những cống hiến đặc biệt xuất sắc, năm 1978, ông vinh dự được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân. Sau những năm tháng lẫy lừng trên chiến trường, vị tướng già nay đã ở tuổi ngoài 90, sống bình dị tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Ông không chỉ là một nhân chứng lịch sử, mà còn là biểu tượng sống động về trí tuệ và bản lĩnh của người lính đặc công Việt Nam "luyện đồng đúc thép", luôn có mặt ở những nơi gian khó và nguy hiểm nhất để đem lại hòa bình cho Tổ quốc.



