Anh hùng Lực lượng vũ trang

NGUYỄN THÀNH ÚT – NGƯỜI CHIẾN SĨ TIỂU ĐOÀN 307 ANH HÙNG

Nguyễn Thành Út, tên khai sinh Huỳnh Văn Voi (1931–2022), quê Mỹ Thới, Long Xuyên, An Giang, là một chiến sĩ tiêu biểu của Tiểu đoàn 307 trên chiến trường Nam Bộ. Trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, ông tham gia 42 trận, 6 lần bị thương, nổi bật với tinh thần chiến đấu gan dạ tại đồn Bà Lực năm 1950 và Bảy Ngàn năm 1952. Ông được tặng Huân chương Quân công hạng Ba, Huân chương Chiến công hạng Nhì và ngày 7-5-1956 được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Sau này, ông tiếp tục phục vụ trong lực lượng Phòng không – Không quân, mang quân hàm Đại tá và từng giữ cương vị Chính ủy Sư đoàn Không quân 376.

An Giang22/08/2026Xã Thạnh Mỹ Tây (Đoàn xã Thạnh Mỹ Tây)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Nguyễn Thành Út, tên khai sinh Huỳnh Văn Voi, sinh năm 1931 tại xã Mỹ Thới, thị xã Long Xuyên, tỉnh An Giang. Mồ côi cha mẹ từ nhỏ, năm 10 tuổi ông phải nương nhờ cửa chùa. Đến tuổi 15, ông theo một người đàn anh tới Sa Đéc làm công tác cứu thương. Vì nhỏ tuổi nhất đơn vị, mọi người trìu mến gọi ông là “Út cứu thương”, và từ đó cái tên Nguyễn Thành Út gắn bó với ông suốt cuộc đời binh nghiệp.

Sau một thời gian làm công nhân tại Sài Gòn, Nguyễn Thành Út được tổ chức đưa về Tiểu đoàn 307, một trong những đơn vị chủ lực cơ động nổi tiếng của chiến trường Nam Bộ. Từ đây, người thanh niên An Giang bước vào những năm tháng chiến đấu quyết liệt của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Từ trận Mộc Hóa đến những chiến trường Nam Bộ

Tháng 8-1948, Tiểu đoàn 307 tham gia trận Mộc Hóa. Đơn vị vận dụng cách đánh “công đồn, đả viện”: một bộ phận vây ép đồn Mộc Hóa, đồng thời bố trí lực lượng phục kích quân tiếp viện.

Ngày 18-8-1948, lực lượng đối phương từ khu vực biên giới Việt Nam – Campuchia tiến về cứu viện và lọt vào trận địa phục kích. Bộ đội cùng du kích đồng loạt tiến công, đánh bại lực lượng tiếp viện. Sau ba ngày chiến đấu, trận Mộc Hóa kết thúc thắng lợi.

Đây trở thành một trong những chiến công đầu tiên ghi dấu quá trình trưởng thành của Tiểu đoàn 307. Những năm tiếp theo, Nguyễn Thành Út cùng đơn vị tiếp tục chiến đấu trên nhiều địa bàn ở Nam Bộ.

Theo tư liệu bạn cung cấp, trong 9 năm chiến đấu, Nguyễn Thành Út tham gia 42 trận và 6 lần bị thương, nhưng vẫn luôn hoàn thành nhiệm vụ.

Kẹp trung liên xông lên ở đồn Bà Lực

Một trong những trận đánh thể hiện rõ sự gan dạ của Nguyễn Thành Út diễn ra tại đồn Bà Lực năm 1950.

Hỏa lực đối phương bắn dữ dội khiến đơn vị hai lần tổ chức xung phong nhưng chưa thể đột phá.

Trước tình thế giằng co, Nguyễn Thành Út kẹp súng trung liên vào nách, tiến sát đồn và bắn áp chế các vị trí hỏa lực. Hành động táo bạo ấy tạo điều kiện để lực lượng phía sau xông lên phá cửa, tiến vào cứ điểm và hoàn thành trận đánh.

Ngâm mình dưới nước trong trận Bảy Ngàn

Đến trận Bảy Ngàn, Cần Thơ năm 1952, Nguyễn Thành Út cùng một đồng đội thực hiện một cách tiếp cận đặc biệt.

Hai người đội bèo, ngâm mình dưới rạch, bí mật áp sát và lọt vào đồn. Sau khi vào được bên trong, họ chiếm vị trí cầu thang gác để ngăn đối phương phản kích.

Khi bị phát hiện, cuộc chiến trở nên quyết liệt. Người đồng đội của Nguyễn Thành Út hy sinh.

Chỉ còn lại một mình, ông vẫn kiên trì chiến đấu, giữ vị trí và đánh chặn đối phương cho đến khi lực lượng xung kích tiến vào.

Đây là một trong những chiến công tiêu biểu thể hiện lòng dũng cảm, sự bình tĩnh và ý chí chiến đấu của người chiến sĩ Tiểu đoàn 307.

Được phong Anh hùng LLVTND năm 1956

Với những thành tích trong chiến đấu, Nguyễn Thành Út được tặng thưởng Huân chương Quân công hạng BaHuân chương Chiến công hạng Nhì.

Ngày 7-5-1956, nhân kỷ niệm hai năm Chiến thắng Điện Biên Phủ, Nguyễn Thành Út được phong tặng danh hiệu:

ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN.

Theo phần tư liệu chi tiết bạn cung cấp, thời điểm được tuyên dương ông là Chính trị viên đại đội. Tuy nhiên, bảng thông tin ở đầu tư liệu lại ghi ông là Trung đội phó Đại đội 2, Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 570, Đại đoàn 330. Hai thông tin này đang có sự khác nhau, vì vậy nếu sử dụng trong hồ sơ lịch sử chính thức, nên kiểm chứng lại chức vụ chính xác của ông tại thời điểm tuyên dương năm 1956.

Từ Tiểu đoàn 307 đến lực lượng Không quân

Sau Hiệp định Genève năm 1954, Tiểu đoàn 307 tiếp quản một số địa bàn rồi tập kết ra Bắc. Đơn vị sau đó được tổ chức lại trong đội hình mới.

Nguyễn Thành Út tiếp tục phục vụ lâu dài trong quân đội và sau này chuyển sang lực lượng Phòng không – Không quân. Ông phát triển đến quân hàm Đại tá, từng giữ cương vị Chính ủy Sư đoàn Không quân 376.

Năm 1993, ông nghỉ hưu và sinh sống tại Thành phố Hồ Chí Minh. Theo bảng dữ liệu bạn cung cấp, ông qua đời năm 2022.

Cuộc đời Nguyễn Thành Út vì thế trải dài từ một cậu bé mồ côi, “Út cứu thương”, người chiến sĩ Tiểu đoàn 307 đến một Đại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn