Anh hùng Lực lượng vũ trang

NGUYỄN THẾ ĐOÀN – NGƯỜI Y SĨ GIỮA LỬA ĐẠN, LẤY MÁU MÌNH CỨU ĐỒNG ĐỘI

Nguyễn Thế Đoàn (tức Hai Thủy, sinh năm 1938, quê Tân Phú A, Thanh Bình, Đồng Tháp) là người y sĩ quân y đã dành tuổi trẻ của mình để cứu chữa thương binh giữa chiến trường ác liệt. Từ những ca phẫu thuật trong tiếng bom, những lần tự lấy máu mình truyền cho đồng đội đến việc trực tiếp cầm súng bảo vệ trạm quân y, ông cùng đội phẫu thuật đã cứu chữa hơn 1.000 thương binh. Ngày 10-2-1970, Nguyễn Thế Đoàn được tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.

Đồng Tháp22/08/2026Xã Thạnh Mỹ Tây (Đoàn xã Thạnh Mỹ Tây)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Giữa chiến trường Bến Tre những năm kháng chiến chống Mỹ, có những người lính chiến đấu bằng súng, có những người chiến đấu bằng dao mổ, băng gạc và đôi bàn tay cứu người. Nhưng với Nguyễn Thế Đoàn, ranh giới ấy gần như không tồn tại. Khi thương binh cần cứu chữa, ông là người y sĩ đứng bên bàn mổ. Khi quân địch áp sát trạm phẫu thuật, ông lại cầm súng chiến đấu để bảo vệ đồng đội.

Nguyễn Thế Đoàn, còn có tên là Hai Thủy, sinh năm 1938 tại xã Tân Phú A, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp. Sinh trưởng trong một gia đình có cha và em tham gia kháng chiến, ông sớm bước vào con đường cách mạng. Mới 14 tuổi, Nguyễn Thế Đoàn đã tham gia dân quân địa phương. Một năm sau, ông vào quân đội, ban đầu làm liên lạc, trinh sát trên chiến trường Đồng Tháp Mười.

Những năm tháng ấy đã đưa người chiến sĩ trẻ đến với một nhiệm vụ đặc biệt: cứu người giữa chiến trường.

Sau khi được học cứu thương, năm 1954 Nguyễn Thế Đoàn tập kết ra miền Bắc và được đào tạo trở thành quân y sĩ. Đến năm 1962, ông trở lại miền Nam, về chiến trường Bến Tre, đảm nhiệm công tác tại đội phẫu thuật tiền phương của tỉnh.

Ở chiến trường, một ca phẫu thuật không chỉ là cuộc chạy đua với thương tích. Đó còn là cuộc chạy đua với bom đạn, những cuộc càn quét và sự thiếu thốn thuốc men, dụng cụ. Trình độ chuyên môn ban đầu còn hạn chế, trang thiết bị lại thiếu thốn, Nguyễn Thế Đoàn phải vừa làm vừa học, kiên trì nâng cao tay nghề để đáp ứng yêu cầu ngày càng khắc nghiệt của chiến trường.

Dần dần, ông có thể xử lý cả những trường hợp khó như thủng ruột, vỡ thận, góp phần làm giảm rõ rệt tỷ lệ tử vong của thương binh. Cùng đồng đội, Nguyễn Thế Đoàn đã cứu chữa hơn 1.000 thương binh, trong đó có trên 400 trường hợp bị thương vừa và nặng, thực hiện 55 ca phẫu thuật, đồng thời góp phần đào tạo 17 cán bộ có trình độ chuyên môn tốt.

Nhưng thử thách khốc liệt nhất đến trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.

Khi bộ đội tiến công thị xã Bến Tre, tin báo cho biết còn nhiều thương binh mắc kẹt bên trong. Nguyễn Thế Đoàn chủ động xin đưa một tổ phẫu thuật vào thị xã cứu chữa.

Đường vào bị quân địch chặn đánh quyết liệt. Một nửa tổ phẫu thuật không thể đến được vị trí quy định. Trong hoàn cảnh lực lượng thiếu hụt, bom đạn vây quanh, Nguyễn Thế Đoàn vẫn quyết định tổ chức cứu chữa. Ông vận động nhân dân giúp tìm nơi trú ẩn cho thương binh, rồi cùng đồng đội lao đi dưới bom đạn để băng bó, cấp cứu.

82 thương binh đã được cứu chữa và tổ chức đưa ra vùng giải phóng an toàn.

Trong đợt tiến công thị xã Bến Tre lần thứ hai, thử thách còn dữ dội hơn.

Nguyễn Thế Đoàn đang thực hiện một ca mổ vỡ lá lách thì bom nổ rất gần, sức ép hất ông ngã xuống đất. Vừa gượng dậy được, ông lập tức quay trở lại bàn mổ.

Chưa lâu sau, trong một ca phẫu thuật vết thương bụng khác, bom napalm nổ khiến căn nhà nơi tổ phẫu thuật làm việc bốc cháy. Không thể tiếp tục mổ tại chỗ, Nguyễn Thế Đoàn cùng kíp phẫu thuật nhanh chóng xử trí vết mổ, thực hiện những thao tác cần thiết để bảo đảm an toàn cho thương binh rồi chuyển người bệnh sang một căn hầm khác.

Ở đó, ca phẫu thuật lại tiếp tục.

Suốt 5 ngày đêm, giữa bom đạn, thiếu ăn và thiếu ngủ, Nguyễn Thế Đoàn gần như không ngừng làm việc. Có lúc thương binh cần truyền máu khẩn cấp mà không đủ nguồn máu dự trữ, ông không do dự:

Ông lấy chính máu của mình để truyền cho đồng đội.

Nhưng người y sĩ ấy không chỉ biết cầm dao mổ.

Tháng 10-1967, trong trận Mỹ Lồng, khi Nguyễn Thế Đoàn đang phẫu thuật thì một tiểu đoàn địch đổ quân xuống gần trạm. Nếu tiếp tục ở lại, toàn bộ thương binh và đội phẫu thuật có nguy cơ bị tiêu diệt.

Ông nhanh chóng cho tạm khâu vết mổ, tổ chức lực lượng vừa chiến đấu vừa chuyển thương binh về phía sau. Đến địa điểm an toàn, ca phẫu thuật lại được tiếp tục.

Ngày hôm sau, quân địch tiếp tục sục sạo gần khu vực trú quân. Nguyễn Thế Đoàn không chờ chúng tiến sát. Sau khi bố trí người ở lại chỉ huy bảo vệ thương binh, ông cầm tiểu liên, chủ động tiến ra bám địch.

Tại khu vực gần bãi thu quân ở bìa rừng, nhận thấy sơ hở của đối phương, ông bất ngờ nổ súng vào những chiếc trực thăng đang hoạt động. Theo thành tích được ghi nhận trong tư liệu, trận đánh đã góp phần buộc số máy bay còn lại phải chuyển sang một bãi thu quân xa hơn, qua đó bảo vệ được bí mật của khu vực trú quân và sự an toàn của thương binh.

Trong nhiều lần khác, khi quân địch tiến sát trạm quân y, Nguyễn Thế Đoàn còn trực tiếp dẫn tổ xung kích của đội phẫu thuật chiến đấu, có lúc chặn cả lực lượng cấp đại đội để bảo vệ những người đang nằm trên cáng thương.

Vì thế, đội phẫu thuật tiền phương của ông không chỉ cứu người. Họ còn trở thành một đơn vị có khả năng tự bảo vệ giữa chiến trường. Theo hồ sơ thành tích, toàn đội đã diệt 45 địch, làm bị thương 30, bắn rơi 6 máy bay trực thăng và bắn bị thương 6 chiếc khác. Riêng Nguyễn Thế Đoàn được ghi nhận diệt 10 địch, bắn rơi 1 trực thăng và bắn bị thương 4 chiếc khác.

Điều đáng quý ở Nguyễn Thế Đoàn không chỉ nằm ở những con số ấy. Đó còn là hình ảnh một người quân y luôn đặt sinh mạng đồng đội lên trước bản thân: bom đánh ngã thì đứng dậy tiếp tục mổ; nhà cháy thì chuyển thương binh sang hầm khác để mổ tiếp; thiếu máu thì lấy máu của mình; địch đến thì rời bàn mổ cầm súng bảo vệ thương binh.

Trong công tác và sinh hoạt, ông luôn gương mẫu, chấp hành nghiêm mệnh lệnh, tận tình giúp đỡ nhân dân và hết lòng thương yêu đồng đội. Nguyễn Thế Đoàn được tặng Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhì, 6 bằng khen và 3 lần được bầu là Chiến sĩ thi đua của tỉnh.

Ngày 10 tháng 2 năm 1970, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tuyên dương Nguyễn Thế Đoàn danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.

Giữa những câu chuyện về chiến tranh, người ta thường nhớ đến những người lính xung phong qua hàng rào, đánh xe tăng hay giữ chốt. Câu chuyện của Nguyễn Thế Đoàn lại khắc họa một mặt trận khác – mặt trận giành giật sự sống.

Ở mặt trận ấy, bàn mổ có thể nằm ngay dưới tầm bom; người thầy thuốc có thể vừa cứu người, vừa phải cầm súng. Và có những thời khắc, thứ thuốc quý giá nhất để cứu một người lính lại chính là dòng máu của người đồng đội đang đứng bên mình.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn