Nguyễn Thị Ba - Nữ tình báo anh hùng
Nguyễn Thị Ba - người chiến sĩ kiên trung
Trong lần gặp mặt đầu tiên, đồng chí Mười Hương nói với Nguyễn Thị Ba: "Ngoài việc phải thường xuyên đối mặt với rất nhiều khó khăn, nguy hiểm do sự kiểm soát gắt gao của địch, người cán bộ, nhân viên tình báo còn phải đứng vững trước sự cám dỗ của cuộc sống xa hoa, hưởng lạc. Nếu không sẵn sàng chấp nhận hi sinh, không một lòng một dạ trung thành với sự nghiệp cách mạng thì không thể làm tốt công tác tình báo. Chị có ý kiến gì không?". Nguyễn Thị Ba đã trả lời: "Tôi thấy tình báo là một ngành rất quan trọng. Tôi quyết tâm phục vụ trong ngành để góp phần đánh tan bọn xâm lược và bè lũ tay sai, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Dù có rơi vào hoàn cảnh nào, dù có phải hi sinh, mất mát đến đâu, tôi cũng không nản chí, sờn lòng. Anh cứ an tâm mà giao nhiệm vụ cho tôi, tôi sẽ gắng sức hoàn thành".
Để đáp ứng yêu cầu công tác tình báo, Nguyễn Thị Ba đã nuốt nước mắt gửi hai con nhỏ nhờ chị chồng nuôi dạy. Trong những năm 1954-1956, bà làm nhiệm vụ tại tuyến giao thông Cà Mau - Sài Gòn, với bao cạm bẫy rình rập. Đầu năm 1957, Nguyễn Thị Ba chuyển về công tác ở huyện Hồng Ngự, tỉnh Châu Đốc (nay là tỉnh Đồng Tháp).
Năm 1959, bà chuyển vào nội thành Sài Gòn, làm nghề buôn bán để tạo vỏ bọc cho hoạt động tình báo, với bí danh B3. Nguyễn Thị Ba làm nhiệm vụ chuyển tài liệu, tin tức tình báo ra vùng căn cứ và truyền đạt chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên cho cán bộ tình báo hoạt động trong thành phố Sài Gòn.
Giữa năm 1961, Nguyễn Thị Ba được tổ chức gọi về căn cứ Phú Hòa Đông ở huyện Củ Chi để huấn luyện về chính trị và nghiệp vụ. Trong một tháng huấn luyện, Nguyễn Thị Ba luôn là người làm việc vừa chặt chẽ, đúng nguyên tắc, vừa nhạy bén, sáng tạo. Sau khi kết thúc đợt huấn luyện, Nguyễn Thị Ba được tổ chức tín nhiệm giao nhiệm vụ làm người kết nối thông tin liên lạc cho điệp viên huyền thoại Hai Trung (Thiếu tướng Phạm Xuân Ẩn) ở nội thành Sài Gòn.
Đối với Nguyễn Thị Ba, mỗi chuyến đi, mỗi điệp vụ đều có nhiều phương án đặt ra sau khi đã nghiên cứu kỹ. Trong các phương án đó không hề có tình huống nào để lộ cơ sở, đặc biệt là đồng chí Phạm Xuân Ẩn. Phương án bất đắc dĩ cuối cùng là "tự sát, thủ tiêu tài liệu". Thỉnh thoảng qua mật báo, bà cũng nhận được những tin vui: Tin chiến thắng có phần đóng góp của đơn vị bà; tin đơn vị D36 (cụm tình báo Sài Gòn) được phong danh hiệu Anh hùng; tin bà được thăng quân hàm Trung úy, rồi Đại úy; tin chồng bà vẫn khoẻ mạnh và gặp con trai ở Hà Nội...
Trong 14 năm (1961-1975), Nguyễn Thị Ba đã thực hiện an toàn gần 500 chuyến giao thông liên lạc với đồng chí Hai Trung (Thiếu tướng Phạm Xuân Ẩn), kể cả vào những dịp chiến sự căng thẳng. Để tránh bị địch theo dõi, phát hiện, địa điểm liên lạc mỗi lần lại phải mỗi khác. Sau này, đồng chí Hai Trung (Thiếu tướng Phạm Xuân Ẩn) đã khen ngợi: "Chị Ba có trí nhớ tốt, thông thuộc địa bàn Sài Gòn, chấp hành nghiêm nguyên tắc và kỉ luật hoạt động, có ý thức cảnh giác cao, ngụy trang tài liệu chu đáo, thực hiện giờ giấc chính xác, dù mưa gió, ốm đau vẫn không lơi là nhiệm vụ. Chị lớn tuổi hơn tôi, đã thẳng thắn góp ý, giáo dục tôi. Chị đã hi sinh cả tình cảm gia đình, sống một mình để hoạt động cho ngành tình báo. Tôi rất khâm phục chị."
Trong hàng chục năm hoạt động, đồng chí Nguyễn Thị Ba đã mưu trí, dũng cảm một mình khôn khéo che mắt địch, đảm bảo hoạt động liên lạc với hàng chục đầu mối an toàn, đúng thời gian, đúng kế hoạch. Ngoài nhiệm vụ trên, bà còn làm công tác đưa đón cán bộ ra vào Sài Gòn hoạt động, công việc này đòi hỏi phải thông thạo đường phố, lanh lợi, bình tĩnh mới hoàn thành nhiệm vụ. Những ngày trong chiến dịch Hồ Chí Minh, tuy tuổi cao, sức yếu nhưng bà vẫn đảm đương mọi công tác và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, góp phần giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Xa chồng hơn 20 năm, vừa nuôi hai con, vừa công tác cách mạng, Nguyễn Thị Ba đã chịu đựng, khắc phục mọi khó khăn, hy sinh hạnh phúc riêng của bản thân, nêu cao phẩm chất, đạo đức cách mạng. Bà được nhân dân yêu thương, quý mến, được đồng đội cảm phục, là tấm gương sáng để mọi người noi theo học tập.
Ghi nhận những đóng góp to lớn với cách mạng, ngày 15/1/1976, bà được tặng danh hiệu Anh hùng lực Lượng vũ trang nhân dân trong Chiến dịch Hồ Chí Minh.
(Nguồn: TTXVN)



