NGUYỄN THỊ BÉ – “BÔNG HUỆ ĐỎ” CỦA ĐẤT GÒ DẦU
Nguyễn Thị Bé, còn gọi là Bé Hai, rời gia đình tham gia kháng chiến từ năm 17 tuổi. Từ một nữ giao liên, chị trở thành Bí thư Chi bộ, Chính trị viên xã đội Suối Bà Tươi, trực tiếp tổ chức lực lượng, chống càn và chiến đấu trên quê hương Gò Dầu. Tháng 3-1973, chị hy sinh sau khi dùng B41 bắn cháy một xe tăng trong trận chiến ác liệt.
Thời kỳ lịch sử: Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước – chiến trường Gò Dầu, Tây Ninh, 1961–1973.
1. CÔ GÁI GÒ DẦU RỜI NHÀ KHI MỚI 17 TUỔI
Nguyễn Thị Bé sinh năm 1944, tại xã Thanh Phước, huyện Gò Dầu, Tây Ninh.
Quê hương chị nằm trong vùng đất giàu truyền thống cách mạng của miền Đông Nam Bộ.
Năm 1961, khi mới 17 tuổi, cô gái Nguyễn Thị Bé rời gia đình, tham gia kháng chiến.
Ban đầu, chị làm công tác giao liên cho lực lượng cách mạng.
Đó là công việc đòi hỏi sự nhanh nhẹn, kín đáo và lòng tin.
Một người giao liên phải đưa thư, chuyển tin, nối những cơ sở cách mạng với nhau trong một địa bàn mà sự kiểm soát của đối phương ngày càng chặt chẽ.
Nhưng Bé không chỉ làm tốt nhiệm vụ được giao.
Chị nhanh chóng bộc lộ khả năng vận động quần chúng và tinh thần chiến đấu.
Cuối năm 1961, chị được kết nạp vào Đoàn Thanh niên.
Một năm sau, Nguyễn Thị Bé đứng vào hàng ngũ của Đảng.
Từ một cô gái 17 tuổi làm giao liên, chị bắt đầu bước vào một chặng đường mà sau này đồng đội gọi bằng một cái tên rất trìu mến:
Bé Hai.
Chú thích ảnh: Chân dung liệt sĩ, Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Thị Bé, còn gọi là Bé Hai. Đây là ảnh trực tiếp của nhân vật, được Báo Quân đội nhân dân đăng trong bài viết về chị.
Nguồn ảnh: Báo Quân đội nhân dân, Nguyên mẫu “Bông huệ đỏ” trong ký ức đồng đội.
2. “BÉ HAI” VÀ NHỮNG CĂN CỨ LÕM GIỮA VÙNG ĐỊCH KIỂM SOÁT
Những năm đầu thập niên 1960, Gò Dầu trở thành một địa bàn mà đối phương tìm cách kiểm soát và dập tắt phong trào cách mạng.
Để bám đất, bám dân, lực lượng cách mạng xây dựng những “căn cứ lõm” ngay trong vùng đối phương kiểm soát.
Có nơi căn cứ chỉ cách đồn địch vài trăm mét.
Ban ngày có thể là một xóm dân cư.
Một khu rừng chồi.
Một đồn điền cao su.
Nhưng khi đêm xuống, nơi ấy trở thành điểm tựa cho lực lượng cách mạng.
Nguyễn Thị Bé thường xuyên đi đến các ấp trong xã.
Chị vận động nhân dân giữ làng, giữ đất, xây dựng lực lượng và củng cố phong trào.
Theo hồi ức của những người từng hoạt động với chị, ở đâu có Bé Hai, ở đó phong trào được củng cố; nơi nào địch tiến đến, chị lại cùng du kích tổ chức chống trả.
Đó là công việc không có chiến tuyến rõ ràng.
Không có một trận địa cố định.
Người cán bộ phải sống giữa dân, dựa vào dân và luôn đối mặt với nguy cơ bị phát hiện.
Nguyễn Thị Bé ngày càng trở thành một cán bộ nổi bật của phong trào Gò Dầu.
Và rồi chị được giao trọng trách lớn hơn.
Bí thư Chi bộ, Chính trị viên xã đội Suối Bà Tươi.
Chú thích ảnh: Hình ảnh vùng đất Gò Dầu – Thanh Phước – Phước Đông ngày nay, dùng để hình dung địa bàn quê hương và hoạt động của Nguyễn Thị Bé. Không phải ảnh chiến trường thời kỳ chị hoạt động.
Nguồn ảnh: Tư liệu địa phương Tây Ninh; địa danh và quá trình hoạt động của chị được đối chiếu với Báo Quân đội nhân dân và Báo Điện tử Chính phủ.
3. NGƯỜI NỮ CHÍNH TRỊ VIÊN KHIẾN ĐỊCH LO SỢ
Nguyễn Thị Bé không chỉ tổ chức phong trào.
Chị trực tiếp tham gia chiến đấu.
Theo lời kể của những người từng là đồng đội, cái tên Hai Bé dần trở thành nỗi lo của lực lượng đối phương ở Gò Dầu.
Mỗi lần nghe tiếng chị, chúng tìm cách bắn áp chế.
Nhưng Bé Hai không dễ bị khuất phục.
Chị hoạt động cơ động, lúc ở nơi này, lúc xuất hiện ở nơi khác.
Khi phong trào ở Suối Bà Tươi gặp khó khăn, chị chuyển sang Thanh Phước hoạt động cùng du kích địa phương, rồi tìm cách khôi phục phong trào ở địa bàn cũ.
Chị thực hiện chủ trương “đột ấp phá kiềm”.
Đó là cách tổ chức lực lượng từ bên trong vùng bị kiểm soát, phá thế phong tỏa và tạo điều kiện để nhân dân tiếp tục bám trụ.
Hàng chục trận đánh được tổ chức.
Có những trận đánh nhằm ngăn chặn các cuộc càn.
Có những trận nhằm phá thế bao vây.
Và cũng có những trận mà lực lượng du kích phải chiến đấu trong điều kiện quân số và hỏa lực kém xa đối phương.
Nhưng Bé Hai vẫn ở đó.
Không chỉ chỉ huy từ phía sau.
Chị cùng du kích trực tiếp chiến đấu.
4. NGÀY 20-5-1971 – TRẬN CHỐNG CÀN TRONG CĂN HẦM NHỎ
Ngày 20-5-1971, một trận chống càn diễn ra ác liệt tại ấp Cây Trắc.
Lực lượng du kích phải rút xuống hầm để cố thủ.
Nguyễn Thị Bé cũng ở trong đội hình.
Đối phương phát hiện lỗ thông hơi của căn hầm.
Chúng bao vây.
Tên chỉ huy ra lệnh bắn.
Đạn từ bên ngoài trút xuống.
Lỗ thông hơi bị phá rộng.
Tình thế trở nên đặc biệt nguy hiểm.
Nhưng những người ở dưới hầm không chờ đợi cái chết.
Một chiến sĩ du kích trong hầm bật nắp, dùng AK tiêu diệt tên chỉ huy và làm một số binh lính bị thương.
Ngay sau đó, Nguyễn Thị Bé lao lên, ném lựu đạn.
Đội hình đối phương rơi vào hỗn loạn.
Chị lập tức hô đồng đội:
“Rút!”
Rồi cùng mọi người thoát khỏi vòng vây.
Đó chỉ là một trong những trận đánh nhỏ giữa vô số trận đánh của chiến tranh.
Nhưng nó cho thấy cách Nguyễn Thị Bé chiến đấu:
ở rất gần đồng đội, ở rất gần hiểm nguy và luôn trực tiếp hành động khi tình thế quyết định.
5. NGƯỜI PHỤ NỮ LÀM HÀNG TRĂM QUẢ MÌN TỰ TẠO
Trong cuộc chiến đấu tại Gò Dầu, vũ khí của lực lượng du kích thường thiếu thốn.
Vì vậy, bên cạnh súng đạn thu được hoặc được cấp, họ phải tận dụng những vật liệu có thể tìm thấy để chế tạo vũ khí.
Nguyễn Thị Bé tham gia công việc ấy.
Theo hồ sơ thành tích được các nguồn chính thống dẫn lại, chị đã làm hàng trăm quả mìn tự tạo.
Chị cũng góp phần tổ chức lực lượng và vận động những người trong hàng ngũ đối phương rời bỏ con đường chiến đấu chống lại cách mạng.
Nhờ khả năng vận động và cách nói chuyện thuyết phục, nhiều binh lính đối phương đã nghe lời kêu gọi của chị và rời hàng ngũ.
Những chiến công được ghi nhận của Nguyễn Thị Bé không chỉ nằm ở số lượng trận đánh.
Đó còn là khả năng xây dựng lực lượng.
Tổ chức cơ sở.
Vận động quần chúng.
Vận động binh lính đối phương.
Và khi cần thiết, trực tiếp cầm vũ khí chiến đấu.
Đó là lý do hình ảnh của Bé Hai trong ký ức đồng đội không chỉ là một nữ du kích gan dạ.
Chị còn là một người tổ chức phong trào.
Chú thích ảnh: Tư liệu về vũ khí tự tạo và trang bị của lực lượng du kích trong chiến tranh. Không phải những quả mìn do Nguyễn Thị Bé trực tiếp chế tạo, vì không có ảnh tư liệu xác định được điều đó.
Nguồn ảnh: Tư liệu bảo tàng, lịch sử quân sự Việt Nam.
6. BA HUY HIỆU DŨNG SĨ DIỆT MỸ VÀ MỘT HUY HIỆU DŨNG SĨ DIỆT XE TĂNG
Những năm chiến đấu của Nguyễn Thị Bé để lại nhiều thành tích.
Theo hồ sơ được Báo Điện tử Chính phủ dẫn lại, chị được tặng:
3 Huy hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ.
1 Huy hiệu Dũng sĩ diệt xe tăng.
Các nguồn cũng ghi nhận chị đã:
Giải tán một trung đội phòng vệ dân sự.
Bắt sống 3 người thuộc lực lượng đối phương.
Tiêu diệt hàng chục quân địch.
Làm hàng trăm quả mìn tự tạo.
Bắn cháy một xe tăng.
Những con số ấy được ghi lại sau nhiều năm.
Nhưng phía sau mỗi con số là một hoàn cảnh cụ thể.
Một cuộc phục kích.
Một trận chống càn.
Một lần đối mặt với xe tăng.
Một lần vận động binh lính đối phương.
Một đêm đi qua những căn cứ lõm.
Và mỗi lần như vậy, người phụ nữ trẻ ấy đều phải đối mặt với nguy hiểm thật sự.
Nguyễn Thị Bé không chiến đấu trong một đội quân có ưu thế về hỏa lực.
Chị chiến đấu bằng sự bám đất, sự hiểu địa bàn, khả năng tổ chức và lòng can đảm của người dân Gò Dầu.
7. THÁNG 3-1973 – TRẬN ĐÁNH CUỐI CÙNG
Sau Hiệp định Paris năm 1973, chiến trường miền Nam vẫn chưa thực sự im tiếng súng.
Tại Gò Dầu, những căn cứ lõm tiếp tục trở thành mục tiêu của các cuộc càn quét.
Tháng 3-1973, một lực lượng lớn đối phương tiến vào khu căn cứ ở khu vực Xóm Đồng, Rồng Tượng.
Xe tăng và hỏa lực mạnh được sử dụng.
Bộ binh đối phương tràn vào.
Lực lượng cách mạng phải chiến đấu trong điều kiện rất khó khăn.
Nguyễn Thị Bé khi ấy là Bí thư Chi bộ, Chính trị viên xã đội Suối Bà Tươi.
Chị cùng lực lượng du kích phối hợp với Đại đội 33 huyện Gò Dầu chống trả.
Trận đánh diễn ra quyết liệt.
Và giữa lúc xe tăng đối phương tiến vào đội hình của ta, Nguyễn Thị Bé cầm B41.
Chị nhằm vào chiếc xe tăng.
Bóp cò.
Chiếc xe tăng bốc cháy.
Nhưng ngay sau đó, hỏa lực đối phương dồn về phía chị.
Những tiếng nổ liên tiếp vang lên.
Nguyễn Thị Bé bị trọng thương.
Chị ngã xuống bên một hố chiến đấu cá nhân.
Và ngày 23-3-1973, người nữ Chính trị viên của Gò Dầu hy sinh.
Chị mới 29 tuổi.
Mười hai năm kể từ ngày cô gái 17 tuổi rời gia đình đi làm cách mạng.
Mười hai năm của một cuộc đời ngắn ngủi.
Chú thích ảnh: Khu vực Gò Dầu – Phước Đông, Tây Ninh ngày nay, dùng để hình dung địa bàn trận chiến cuối cùng của Nguyễn Thị Bé. Không phải ảnh trận đánh tháng 3-1973.
Nguồn ảnh: Tư liệu địa phương và các nguồn báo chí về cuộc đời, chiến đấu và hy sinh của Nguyễn Thị Bé.
8. MỘT NGƯỜI MẸ TRẺ VÀ ĐỨA CON CHƯA KỊP CHÀO ĐỜI
Trong những tư liệu được công bố sau này, có một chi tiết khiến câu chuyện về Nguyễn Thị Bé càng trở nên đau xót.
Khi hy sinh, chị đang mang thai.
Chồng chị là Nguyễn Văn Lạc, người sau này từng giữ chức Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Quân sự huyện Gò Dầu.
Điều đó có nghĩa là trận chiến cuối cùng của Bé Hai không chỉ là sự hy sinh của một người cán bộ, một Chính trị viên xã đội.
Đó còn là sự mất mát của một gia đình.
Một người chồng mất vợ.
Một gia đình mất người con gái.
Và một đứa trẻ chưa kịp chào đời đã mất mẹ.
Chúng ta không có quyền tự viết thêm những lời nói cuối cùng của chị.
Không có tài liệu đáng tin cậy nào cho phép kể rằng chị đã nói câu gì trước khi hy sinh.
Vì vậy, chúng ta chỉ giữ lại điều lịch sử đã xác nhận:
Nguyễn Thị Bé chiến đấu.
Chị bắn cháy một xe tăng.
Chị bị trọng thương.
Và chị hy sinh ngày 23-3-1973.
Đôi khi, sự thật không cần thêm một câu thoại được tưởng tượng.
Bản thân sự thật đã đủ đau lòng.
Chú thích ảnh: Hình ảnh thân nhân và hoạt động tưởng niệm liệt sĩ tại Tây Ninh, dùng để gợi không khí của những gia đình chịu mất mát trong chiến tranh. Không phải ảnh gia đình Nguyễn Thị Bé.
Nguồn ảnh: Tư liệu tưởng niệm liệt sĩ tại Tây Ninh.
9. “BÔNG HUỆ ĐỎ” – TÊN CHỊ Ở LẠI VỚI QUÊ HƯƠNG
Nguyễn Thị Bé hy sinh năm 1973.
Nhưng câu chuyện về chị không mất đi.
Trong ký ức của đồng đội, Bé Hai vẫn là người nữ Chính trị viên gan dạ của Gò Dầu.
Năm 1994, Nhà nước truy tặng chị danh hiệu:
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Sau đó, soạn giả Thanh Hiền viết bài ca cổ “Bông huệ đỏ”, lấy hình tượng Nguyễn Thị Bé làm nguyên mẫu.
Cái tên ấy rất đẹp.
Một bông huệ.
Màu đỏ.
Nhỏ bé nhưng nổi bật giữa một vùng đất từng trải qua chiến tranh.
Bài ca trở thành một cách khác để những thế hệ sau nhớ đến người phụ nữ đã hy sinh trên quê hương Gò Dầu.
Nhưng có lẽ cách tưởng nhớ thiết thực nhất lại đang diễn ra ngay trên mảnh đất chị từng sống.
Năm 2022, Trường THCS Phước Đông được đổi tên thành Trường THCS Nguyễn Thị Bé.
Ngày 21-12-2023, ngôi trường mới mang tên chị được khánh thành tại ấp Phước Đức A, xã Phước Đông, huyện Gò Dầu.
Ngôi trường được xây dựng trên chính khu đất gia đình nữ Anh hùng từng sinh sống.
Những đứa trẻ hôm nay đến trường.
Chúng học toán.
Học văn.
Học lịch sử.
Chúng lớn lên trong một cuộc sống không còn tiếng súng.
Và mỗi ngày, cái tên Nguyễn Thị Bé hiện diện trên cổng trường.
Chú thích ảnh: Trường THCS Nguyễn Thị Bé tại xã Phước Đông, Gò Dầu, Tây Ninh; hình ảnh lễ khánh thành và tượng bán thân của nữ Anh hùng. Ngôi trường được đổi tên từ THCS Phước Đông năm 2022 và khánh thành cơ sở mới ngày 21-12-2023.
Nguồn ảnh: Báo Điện tử Chính phủ, VOV và các cơ quan báo chí tại lễ khánh thành.
LỜI KẾT – NGƯỜI CON GÁI 29 TUỔI CỦA GÒ DẦU
Nguyễn Thị Bé rời gia đình năm 17 tuổi.
Chị bắt đầu bằng công việc giao liên.
Rồi trở thành cán bộ Đoàn.
Vào Đảng.
Xây dựng cơ sở.
Vận động nhân dân.
Tổ chức du kích.
Trở thành Bí thư Chi bộ, Chính trị viên xã đội Suối Bà Tươi.
Và trực tiếp cầm súng chiến đấu.
Chị đã trải qua 12 năm tuổi quân.
Mười hai năm ấy, cô gái 17 tuổi ngày nào trở thành một người cán bộ được đồng đội tin tưởng.
Một người phụ nữ biết tổ chức lực lượng.
Biết vận động nhân dân.
Biết đối mặt với những cuộc càn quét.
Biết chiến đấu khi cần thiết.
Và trong trận cuối cùng, chị cầm B41 bắn cháy một xe tăng.
Rồi chị hy sinh.
Ngày 23-3-1973.
29 tuổi.
Có những con người được lịch sử nhớ đến bằng một trận đánh.
Có những người được nhớ bằng một chiến công.
Còn Nguyễn Thị Bé được nhớ bằng cả một quá trình.
Từ cô gái giao liên 17 tuổi.
Đến người cán bộ xây dựng cơ sở.
Đến nữ Chính trị viên xã đội.
Đến người chiến sĩ cầm B41 giữa trận địa.
Và cuối cùng là một người mẹ trẻ nằm lại trên quê hương.
Chị không sống đến ngày đất nước thống nhất.
Không nhìn thấy những con đường mới của Gò Dầu.
Không thể biết rằng nửa thế kỷ sau, một ngôi trường sẽ mang tên mình.
Không thể nhìn thấy những đứa trẻ đi qua cánh cổng mang tên Nguyễn Thị Bé.
Nhưng chính những đứa trẻ ấy là câu trả lời đẹp nhất cho sự hy sinh của chị.
Bởi các em được học tập trong hòa bình.
Được lớn lên bên gia đình.
Được mơ về tương lai.
Những điều mà thế hệ của Nguyễn Thị Bé đã phải đánh đổi bằng tuổi trẻ.
Năm 1994, hơn hai mươi năm sau ngày chị hy sinh, Tổ quốc truy tặng Nguyễn Thị Bé danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Danh hiệu ấy đến muộn.
Nhưng ký ức về chị chưa bao giờ mất.
Đồng đội vẫn kể về Bé Hai.
Quê hương vẫn nhớ về chị.
Một bài ca cổ mang tên “Bông huệ đỏ” vẫn nhắc đến người nữ Chính trị viên ấy.
Và hôm nay, một ngôi trường mang tên chị vẫn đón những thế hệ học sinh bước vào mỗi ngày.
Xin nghiêng mình trước Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Thị Bé.
Xin biết ơn người con gái Gò Dầu đã dành 12 năm tuổi trẻ cho cuộc chiến đấu.
Xin nhớ đến người nữ Chính trị viên đã không lùi bước trước những cuộc càn quét.
Xin nhớ đến người chiến sĩ đã cầm B41 bắn cháy xe tăng trong trận đánh cuối cùng.
Và xin nhớ rằng phía sau danh hiệu Anh hùng là một con người bằng xương bằng thịt, một người con, một người vợ, một người mẹ chưa kịp nhìn thấy đứa con của mình lớn lên.
Bé Hai đã nằm lại ở tuổi 29.
Nhưng cái tên Nguyễn Thị Bé vẫn còn sống.
Trong ký ức đồng đội.
Trong lòng quê hương Gò Dầu.
Trong bài ca “Bông huệ đỏ”.
Và trong tiếng gọi của những học sinh bước qua cánh cổng mang tên chị.
Một bông huệ đỏ đã nằm xuống giữa đất Gò Dầu.
Nhưng từ sự hy sinh ấy, những thế hệ sau được lớn lên dưới một bầu trời hòa bình.



