NGUYỄN THỊ BÍCH NGA – NỮ BIỆT ĐỘNG 16 TUỔI PHÁO KÍCH SỞ CHỈ HUY TƯỚNG WESTMORELAND
Năm 16 tuổi, trong khi nhiều cô gái cùng trang lứa vẫn đang sống dưới sự chở che của gia đình, Nguyễn Thị Bích Nga đã trở thành một xạ thủ cối 82 ly của Biệt động Sài Gòn. Người con gái có vóc dáng nhỏ nhắn ấy từng cùng đồng đội bí mật đưa pháo vào giữa nội thành, dựng trận địa trong một căn nhà thuê và nã đạn vào Sở chỉ huy của tướng William Westmoreland, người đứng đầu Bộ Chỉ huy Viện trợ Quân sự Mỹ tại Việt Nam lúc bấy giờ.
Nguyễn Thị Bích Nga sinh năm 1951, quê ở Đức Phổ, Quảng Ngãi. Tuổi thơ của bà là những tháng ngày nhiều mất mát. Mồ côi cha mẹ từ nhỏ, người anh ruột thất lạc, bà được một chiến sĩ bộ đội nhận làm con nuôi khi còn rất bé. Năm 1954, cha nuôi tập kết ra miền Bắc nhưng không thể đưa bà theo vì bà còn quá nhỏ. Chỉ 2 năm sau, ông qua đời vì bệnh. Từ đó, những thông tin về gia đình ruột thịt của Nguyễn Thị Bích Nga ngày càng trở nên mờ nhạt. Chính bà sau này cũng chỉ nhớ mình sinh năm 1951 mà không rõ ngày tháng sinh cụ thể. Được người thân của cha nuôi tại Đức Phổ cưu mang, năm 12 tuổi, Nguyễn Thị Bích Nga một mình vào Sài Gòn mưu sinh. Bà từng làm giúp việc cho một gia đình ở đường Tân Hóa. Khoảng 3 năm sau, qua sự kết nối của người chủ, cô gái trẻ được đưa vào căn cứ và chính thức bước vào con đường cách mạng. Khi ấy, bà mới ở tuổi 15.
Nhận thấy Nguyễn Thị Bích Nga nhanh nhẹn và tháo vát, tổ chức cử bà đi học quân sự, sau đó huấn luyện sử dụng các loại cối 60 ly, 80 ly và 82 ly tại Dầu Tiếng. Cuối năm 1966, bà được phân công về B8, đơn vị quân báo của Biệt động Sài Gòn. Từ một cô gái mồ côi từng vào Sài Gòn kiếm sống, Nguyễn Thị Bích Nga trở thành một nữ chiến sĩ hoạt động bí mật ngay giữa đô thành. Trong những năm làm biệt động, bà tham gia nhiều nhiệm vụ, nhưng ký ức sâu đậm nhất vẫn là trận pháo kích Sở chỉ huy của tướng Westmoreland. Để chuẩn bị cho trận đánh, Nguyễn Thị Bích Nga cùng đồng đội bí mật vào nội thành. Nhằm tránh sự chú ý, bà và một chiến sĩ khác đóng giả thành đôi vợ chồng trẻ, thuê nhà ở khu vực Vườn Chuối, gần mục tiêu. Ban ngày họ sống như những người dân trong khu phố. Nhưng bên trong căn nhà thuê ấy, một trận địa pháo đang âm thầm được chuẩn bị.
Khó khăn lớn nhất là khẩu cối 82 ly được đưa vào nội thành không đầy đủ bộ phận. Theo lời kể của bà Nga, khẩu cối thiếu bàn đế và một số thiết bị cần thiết. Trong điều kiện bình thường, bàn đế giúp giữ ổn định nòng cối khi khai hỏa. Nhưng với một đơn vị biệt động hoạt động bí mật giữa Sài Gòn, việc vận chuyển một khẩu cối hoàn chỉnh rất dễ bị phát hiện. Vì thế, các chiến sĩ phải tìm cách chiến đấu với những gì mình có. Khi trận đánh bắt đầu, Nguyễn Thị Bích Nga cùng tổ chiến đấu sử dụng cối 82 ly pháo kích vào Sở chỉ huy của tướng Westmoreland. Dự kiến ban đầu là bắn 10 quả đạn. Nhưng sau những phát đầu tiên, do không có bàn đế, sức giật khiến chân pháo lún sâu xuống nền, nòng cối dần chĩa ngược lên cao. Nếu tiếp tục khai hỏa, đạn có thể rơi sai mục tiêu và gây nguy hiểm cho chính tổ chiến đấu. Nguyễn Thị Bích Nga cùng đồng đội buộc phải dừng lại.
Theo lời bà Nga được tư liệu báo chí ghi lại, tổ chiến đấu đã bắn 3 quả đạn. Tin từ nội thành sau đó báo ra cho biết 2 quả rơi vào khu vực Sở chỉ huy, một quả trúng xe quân sự Mỹ đang chạy trên đường Pasteur. Bà vẫn nhớ rất rõ sự tiếc nuối vì không thể bắn hết 10 quả đạn như kế hoạch. Biết lực lượng đối phương sẽ nhanh chóng lần tìm trận địa, tổ biệt động đặt một khối thuốc nổ TNT khoảng 5kg tại vị trí khẩu cối rồi rút khỏi căn nhà. Toàn bộ 5 người trong tổ chiến đấu rời khỏi khu vực an toàn. Sau trận đánh, Nguyễn Thị Bích Nga bị nhận diện và trở thành mục tiêu bị truy lùng gắt gao.
Đến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968, bà tiếp tục được giao nhiệm vụ trong nhóm xạ thủ chuẩn bị pháo kích vào Dinh Độc Lập. Ngày 2/5/1968, khi đang vận chuyển cối vào nội thành, Nguyễn Thị Bích Nga bị bắt. Khi ấy, bà mới 17 tuổi. Từ đây bắt đầu 7 năm tù đày của người nữ biệt động trẻ tuổi. Bà lần lượt bị đưa qua nhiều nơi thẩm vấn và giam giữ, từ Bình Chánh, cầu Băng Ky, nhà lao Gia Định, Thủ Đức, Chí Hòa đến Tân Hiệp. Tháng 10/1969, bà bị đày ra Côn Đảo và giam trong hệ thống chuồng cọp. Sau đó bà từng bị đưa trở lại đất liền, rồi năm 1972 tiếp tục bị đày ra Côn Đảo. Những năm tháng trong tù là quãng đời mà Nguyễn Thị Bích Nga phải chịu hàng trăm trận đòn và những cuộc tra hỏi khốc liệt. Có lần bà bị đánh đến gãy cả hàm răng. Nhưng người nữ chiến sĩ biệt động vẫn không khai báo những bí mật của tổ chức. Sau này, bà từng nói rằng với một chiến sĩ Biệt động Sài Gòn, điều đầu tiên là lòng trung thành tuyệt đối. Bị bắt hoặc hy sinh cũng không được để lộ bí mật.
Trong thời gian tù đày, Nguyễn Thị Bích Nga từng ở cùng nhiều nữ tù chính trị, trong đó có bà Trương Mỹ Hoa và bà Võ Thị Thắng. Chính tình đồng chí, đồng đội đã giúp những người phụ nữ ấy dìu nhau vượt qua những năm tháng khắc nghiệt trong lao tù. Năm 1973, Nguyễn Thị Bích Nga thuộc diện được trao trả. Bà được đưa về đất liền nhưng sau đó lại tiếp tục bị đày ra Côn Đảo. Phải đến những ngày đất nước hoàn toàn giải phóng năm 1975, bà mới thực sự được tự do. Khi nghe tin Sài Gòn giải phóng qua Đài phát thanh ở Côn Đảo, bà và những người bạn tù ôm nhau vừa khóc vừa cười. Niềm vui đất nước thống nhất xen lẫn nỗi đau khi nhớ đến những đồng đội đã mãi mãi nằm lại ở Nghĩa trang Hàng Dương. Tháng 5/1975, bà được tàu Hải quân đưa trở về đất liền trong tình trạng sức khỏe suy yếu sau nhiều năm tù đày.
Sau ngày giải phóng, Nguyễn Thị Bích Nga tiếp tục công tác tại Thành phố Hồ Chí Minh. Bà từng làm việc tại Ủy ban Nhân dân quận 1 và một số đơn vị kinh tế của thành phố. Do hậu quả của những năm tháng bị giam cầm và tra tấn, sức khỏe ngày càng yếu, cuối tháng 12/1993 bà nghỉ hưu sớm. Tuy vậy, bà vẫn tích cực tham gia công tác xã hội, hoạt động cựu tù Côn Đảo và các tổ chức truyền thống của lực lượng Biệt động Sài Gòn. Đến năm 2025, bà được giới thiệu là Quyền Chủ nhiệm Câu lạc bộ truyền thống kháng chiến khối vũ trang Biệt động Quân khu Sài Gòn - Gia Định.
Nguyễn Thị Bích Nga không có một tuổi trẻ bình yên. Tuổi thanh xuân của bà đi qua bên khẩu cối 82 ly, những căn nhà bí mật giữa Sài Gòn và những năm tháng sau song sắt. Nhưng từ cô gái mồ côi gần như không còn biết rõ gốc gác người thân của mình, bà đã trở thành một trong những nhân chứng sống của lực lượng Biệt động Sài Gòn.



