Bài viết

NGUYỄN THỊ BÌNH - TỪ NGƯỜI PHỤ NỮ HOẠT ĐỘNG CÁCH MẠNG ĐẾN NHÂN CHỨNG LỊCH SỬ CỦA HỘI NGHỊ PARIS

Bài viết tái hiện cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của bà Nguyễn Thị Bình (sinh năm 1927), nguyên Trưởng đoàn đàm phán Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Hội nghị Paris. Từ những ngày đầu hoạt động bí mật đến khoảnh khắc lịch sử đặt bút ký Hiệp định Paris 1973 và chặng đường kiến thiết đất nước thời bình, câu chuyện của bà là minh chứng sống động cho hành trình đấu tranh giành độc lập của dân tộc.

Đồng Tháp28/09/2026Vương Phạm Thủy Tiên (Đoàn Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh)1 lượt xem0 lượt chia sẻ
NGUYỄN THỊ BÌNH - TỪ NGƯỜI PHỤ NỮ HOẠT ĐỘNG CÁCH MẠNG ĐẾN NHÂN CHỨNG LỊCH SỬ CỦA HỘI NGHỊ PARIS

Trong lịch sử Việt Nam thế kỷ XX, có những con người đã trực tiếp trải qua những biến động lớn của đất nước và sau này trở thành những nhân chứng quan trọng của một thời kỳ lịch sử oai hùng. Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình chính là một trong những nhân vật vĩ đại như vậy. Là một nhân chứng lịch sử trực tiếp trên mặt trận chính trị - ngoại giao, bà không chỉ là người quan sát mà còn là người đích thân tham gia, đóng vai trò hạt nhân trong việc định hình các quyết sách lớn lao. Cuộc đời của bà là một kho tư liệu sống động về hành trình đấu tranh giành độc lập, thống nhất và xây dựng đất nước của dân tộc Việt Nam.

Nguồn cội nuôi dưỡng một nhân cách lớn

Bà Nguyễn Thị Bình, tên khai sinh là Nguyễn Thị Châu Sa, sinh ngày 26 tháng 5 năm 1927. Bà sinh ra và lớn lên những năm tháng đầu đời tại Châu Thành (Đồng Tháp), nhưng quê quán gốc của bà gắn liền với vùng đất xã Điện Quang, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam - một vùng đất địa linh nhân kiệt, nơi sản sinh ra nhiều chí sĩ yêu nước của dân tộc. Hiện tại, dù đã bước sang tuổi xưa nay hiếm, bà vẫn đang sinh sống tại thủ đô Hà Nội.

Đặc biệt, bà chính là cháu ngoại của nhà chí sĩ yêu nước Phan Châu Trinh. Than phụ của bà là ông Nguyễn Đông Hợi, một công chức trắc địa nhưng mang trong mình tinh thần dân tộc sâu sắc. Mẹ bà là Phan Thị Châu Liên, trưởng nữ của cụ Phan Châu Trinh. Cái tên "Châu Sa" của bà được đặt theo tên một dòng sông, mang ý nghĩa về sự êm đềm nhưng cũng đầy sức mạnh phù sa bồi đắp cho quê hương. Lớn lên trong một gia đình mà những câu chuyện về vận mệnh nước nhà, về tinh thần "Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh" của ông ngoại luôn được nhắc đến trong từng bữa cơm, ngọn lửa yêu nước đã sớm nhen nhóm và bùng cháy mãnh liệt trong tâm hồn cô gái trẻ.

Tuổi thanh xuân của bà Nguyễn Thị Bình diễn ra trong bối cảnh lịch sử đầy rẫy cam go. Bà từng có thời gian được học tập tại thủ đô Phnom Penh (Campuchia), theo học tại trường trung học danh tiếng Lycée Sisowath. Tại đây, bà sớm nhận ra thân phận của người dân thuộc địa không chỉ ở Việt Nam mà trên toàn cõi Đông Dương. Sau khi mẹ qua đời sớm, bà trở về nước. Đứng trước cảnh nước mất nhà tan, chứng kiến những đồng bào của mình sống dưới gót giày xâm lược, bà đã đưa ra một quyết định thay đổi hoàn toàn số phận của mộ tiểu thư khuê các: từ bỏ con đường bình yên để đi theo ánh sáng của lý tưởng cách mạng.

Bước chân vào cách mạng và những năm tháng chốn lao tù

Năm 1954, khi Cách mạng Tháng Tám bùng nổ, đánh dấu mốc son chói lọi của dân tộc, cô thiếu nữ 18 tuổi Châu Sa đã tích cực tham gia nhiều hoạt động phong trào yêu nước. Tại khu vực Sài Gòn - Chợ Lớn, bà hăng hái tham gia phong trào học sinh sinh viên, tổ chức các cuộc biểu tình, rải truyền đơn và tham gia các hội nhóm Cứu quốc. Bà làm giao liên, vận động trí thức, phụ nữ tham gia kháng chiến. Chính trong giai đoạn này, bí danh "Nguyễn Thị Bình" ra đời. Chữ "Bình" được bà chọn với ước mong giản dị nhưng vô cùng vĩ đại: Bỉnh đẳng và Hòa bình cho dân tộc.

Đây là giai đoạn có ý nghĩa vô cùng đặc biệt. Từ một người trẻ được học hành trong môi trường có điều kiện, bà Nguyễn Thị Bình dấn thân vào con đường hoạt động bí mật đầy gian khổ. Năm 1950, phong trào đấu tranh của học sinh sinh viên Sài Gòn dâng cao (tiêu biểu là phong trào gắn liền với sự hy sinh của anh hùng Trần Văn Ơn), bà Bình là một trong những cán bộ nòng cốt đứng đằng sau tổ chức và lãnh đạo phong trào.

Sự hoạt động năng nổ và ảnh hưởng lớn của bà đã khiến mật thám Pháp chú ý. Năm 1951, bà bị chính quyền thực dân bắt giữ. Kẻ thù đã giam cầm bà tại nhà tù Chí Hòa, một trong những nhà tù khét tiếng tàn bạo nhất thời bấy giờ. Tại đây, bà phải chịu những trận đòn roi tra tấn dã man hòng ép bà khai ra tổ chức. Nhưng những cực hình thể xác không thể làm lung lay ý chí thép của người con gái đất Quảng. Trong tù, bà cùng các chị em nữ tù chính trị khác vẫn tiếp tục tổ chức học văn hóa, học chính trị, tuyệt thực đấu tranh đòi cải thiện chế độ nhà tù. Ba năm chốn lao tù (1951 - 1954) không phải là sự chững lại, mà là ngọn lửa thử vàng, rèn luyện nên một bản lĩnh kiên cường, bất khuất, chuẩn bị cho những trọng trách lịch sử sắp tới. Sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954, bà mới được trả tự do.

Trưởng thành trên mặt trận đối ngoại nhân dân

Sau khi ra tù, bà tập kết ra Bắc và tiếp tục được Đảng, Nhà nước giao nhiều trọng trách. Từ năm 1960, khi Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập, cuộc đấu tranh của nhân dân ta bước sang một giai đoạn mới, cần phải tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè quốc tế. Nhờ kinh nghiệm tiếp xúc với nhiều tầng lớp nhân dân, sự nhạy bén về chính trị, cùng khả năng tiếng Pháp thông thạo và vốn kiến thức quốc tế sâu rộng, bà Nguyễn Thị Bình được phân công hoạt động trong lĩnh vực đối ngoại.

Bà đã đi đến nhiều quốc gia trên thế giới, từ các nước Xã hội chủ nghĩa đến các phong trào không liên kết ở Á - Phi - Mỹ Latinh. Với tư cách là đại diện của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, bà mang tiếng nói chính nghĩa của nhân dân Việt Nam đến các diễn đàn quốc tế, tố cáo tội ác của đế quốc, đồng thời kêu gọi bạn bè năm châu ủng hộ cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc. Lịch sử không chỉ ghi danh bà qua những sự kiện lớn trên báo đài, mà còn qua những chuyến bay dài mệt mỏi vắt kiệt sức lực, những cuộc gặp gỡ âm thầm để thiết lập mạng lưới ủng hộ quốc tế rộng khắp cho cách mạng Việt Nam.

Dấu ấn vĩ đại tại "Bàn đàm phán hình chữ nhật" Paris (1968-1973)

Khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bước vào giai đoạn quyết liệt nhất, sau đòn giáng sấm sét của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, đế quốc Mỹ buộc phải ngồi vào bàn đàm phán tại Paris. Mặt trận ngoại giao lúc này trở thành một trong ba mũi giáp công chiến lược (Quân sự - Chính trị - Ngoại giao), có ý nghĩa sống còn.

Tháng 11 năm 1968, bà Nguyễn Thị Bình đến Paris. Đến tháng 6 năm 1969, khi Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được thành lập, bà chính thức đảm nhận trọng trách Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, đồng thời là Trưởng đoàn đàm phán của Chính phủ Cách mạng lâm thời tại Hội nghị 4 bên ở Paris (gồm: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Mỹ và Việt Nam Cộng hòa).

Đây là một cuộc đấu trí dài nhất, cam go nhất trong lịch sử ngoại giao Việt Nam, kéo dài 4 năm, 8 tháng, 16 ngày. Giữa tâm điểm của giới truyền thông toàn cầu, hình ảnh "Madame Bình" xuất hiện như một biểu tượng tuyệt đẹp và đầy uy lực. Bà luôn mặc áo dài truyền thống, vóc dáng nhỏ bé, nụ cười rạng rỡ, phong thái lịch lãm, điềm tĩnh nhưng lời lẽ lại sắc như dao, cương quyết và đanh thép. Báo chí phương Tây thời bấy giờ ví bà như "Đóa hoa thép", "Bà hoàng của Việt Cộng". Sự xuất hiện của bà đã đập tan bộ máy tuyên truyền của đối phương vốn luôn bôi nhọ những người cách mạng.

Một giai thoại nổi tiếng tại Hội nghị còn lưu truyền, khi các phóng viên Mỹ cố tình đặt câu hỏi hóc búa để gài bẫy: "Bà nói có quân đội Mỹ xâm lược ở miền Nam Việt Nam. Vậy xin bà cho biết có quân đội Bắc Việt ở miền Nam Việt Nam hay không?". Bằng sự mẫn tiệp phi thường, bà điềm tĩnh trả lời: "Dân tộc Việt Nam là một, nước Việt Nam là một. Bất cứ người Việt Nam nào cũng có quyền chiến đấu trên mảnh đất quê hương mình để chống lại quân xâm lược". Câu trả lời xuất thần ấy không chỉ bẻ gãy ý đồ chia cắt đất nước của đối phương mà còn vang dội khắp thế giới như một chân lý hiển nhiên.

Đằng sau mỗi phiên họp tại trung tâm Kléber (Paris) là sinh mạng của hàng vạn đồng bào, chiến sĩ tại chiến trường, là những bất đồng sâu sắc về vấn đề rút quân Mỹ, trao trả tù binh và công nhận địa vị pháp lý của Chính phủ Cách mạng lâm thời. Bà Nguyễn Thị Bình đã áp dụng xuất sắc nghệ thuật ngoại giao "Dĩ bất biến, ứng vạn biến" của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phối hợp nhịp nhàng với Trưởng đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Xuân Thủy và Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ, tạo thành thế "tuy hai mà một" trên bàn đàm phán, dồn ép ngoại giao Mỹ vào thế bị động.

Ngày 27 tháng 1 năm 1973 là một cột mốc đặc biệt của dân tộc. Tại Trung tâm Hội nghị Quốc tế ở thủ đô Paris, Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam chính thức được ký kết. Trong không khí trang nghiêm, bà Nguyễn Thị Bình, với tư cách là người đại diện cho Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, đã đặt bút ký vào văn kiện lịch sử. Bà vinh dự là người phụ nữ duy nhất trong số các bên tham gia ký kết. Khoảnh khắc người phụ nữ Việt Nam đặt bút ký bản Hiệp định buộc Mỹ phải rút toàn bộ quân đội về nước đã trở thành một biểu tượng vĩ đại của ngoại giao thế kỷ XX, đánh dấu thắng lợi to lớn của dân tộc Việt Nam trên trường quốc tế.

Người kiến tạo nền móng giáo dục thời bình (1976-1987)

Khi khai thác câu chuyện về nhân chứng Nguyễn Thị Bình, chúng ta không thể chỉ dừng lại ở ánh hào quang của Hội nghị Paris. Sau Đại thắng Mùa Xuân 1975, đất nước thống nhất, giang sơn thu về một mối, nhưng tàn dư và hậu quả chiến tranh để lại vô cùng nặng nề. Từ một nhà ngoại giao kiệt xuất thời chiến, bà chuyển mình trở thành một nhà lãnh đạo tận tụy trong công cuộc kiến thiết đất nước.

Năm 1976, bà được Quốc hội và Đảng tín nhiệm giao giữ chức vụ Bộ trưởng Bộ Giáo dục. Suốt 11 năm (1976-1987) chèo lái ngành giáo dục, bà phải đối mặt với muôn vàn thách thức của thời kỳ hậu chiến: cơ sở vật chất trường lớp hoang tàn, thiếu thốn sách giáo khoa, và đặc biệt là nhiệm vụ vô cùng phức tạp: thống nhất hệ thống giáo dục của hai miền Nam - Bắc vốn bị chia cắt suốt hơn 20 năm.

Bà đã đi sâu đi sát xuống từng cơ sở, chỉ đạo quyết liệt chiến dịch xóa mù chữ ở các vùng nông thôn miền Nam, tổ chức lại mạng lưới trường lớp, và bước đầu đặt nền móng cho những cuộc cải cách giáo dục quy mô lớn. Tấm lòng của người đứng đầu ngành giáo dục luôn trăn trở làm sao để con em nhân dân, những thế hệ sinh ra trong hòa bình được hưởng một nền giáo dục toàn diện, được vun bồi cả tài lẫn đức để xây dựng Tổ quốc cường thịnh.

Cương vị Phó Chủ tịch nước và những cống hiến không ngừng nghỉ (1992-2002)

Bản lĩnh chính trị và uy tín của bà tiếp tục tỏa sáng khi từ năm 1992 đến năm 2002, bà được Quốc hội bầu làm Phó Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong hai nhiệm kỳ liên tiếp. Dưới sự điều hành của Chủ tịch nước Lê Đức Anh và sau này là Chủ tịch nước Trần Đức Lương, bà đã có những đóng góp to lớn trong việc hoạch định các chính sách đối nội, đối ngoại, đặc biệt là trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh công cuộc Đổi mới, phá vỡ thế bao vây cấm vận và hội nhập quốc tế.

Bà là người có tiếng nói quan trọng trong việc thúc đẩy các chính sách an sinh xã hội, bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em. Hình ảnh Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình với nụ cười hiền hậu nhưng ánh mắt đầy quyết đoán đã trở thành điểm tựa tinh thần vững chắc cho nhân dân. Bà cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức thành công Hội nghị Cấp cao Pháp ngữ lần thứ VII tại Hà Nội (1997), nâng cao vị thế của Việt Nam trong cộng đồng quốc tế.

Ngay cả khi đã rời các vị trí lãnh đạo bộ máy Nhà nước, tâm huyết của bà với nhân dân chưa bao giờ vơi cạn. Bà làm Chủ tịch Quỹ Bảo trợ trẻ em Việt Nam, Chủ tịch danh dự Quỹ Hòa bình và Phát triển Việt Nam, đặc biệt là Chủ tịch danh dự Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam. Ở tuổi nghỉ hưu, bà lại tiếp tục lên tiếng trên các diễn đàn quốc tế, đấu tranh pháp lý và đạo lý để đòi lại công bằng cho những nạn nhân gánh chịu nỗi đau tận cùng của cuộc chiến.

Với những cống hiến vĩ đại suốt một đời người, năm 2021, Đảng và Nhà nước đã vinh dự trao tặng bà danh hiệu cao quý nhất: Huy hiệu 75 năm tuổi Đảng, và trước đó là các phần thưởng cao quý như Huân chương Sao Vàng. Đặc biệt, gần đây bà được đề nghị phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động, một sự ghi nhận xứng đáng cho một biểu tượng sống của cách mạng.

Di sản của một nhân chứng sống qua hồi ký cá nhân

Điểm đặc biệt và quý giá nhất của nhân chứng Nguyễn Thị Bình trong hệ thống tư liệu lịch sử nước nhà là bà đã tự tay chắp bút để lại những hồi ức vô giá. Cuốn hồi ký "Gia đình, bạn bè và đất nước" (được bà khởi thảo từ năm 2007 và ra mắt bạn đọc sau đó) không chỉ là lời tự sự của một cá nhân, mà là tấm gương phản chiếu vĩ đại của cả một thời đại.

Qua từng trang sách, hậu thế không chỉ thấy được những phân tích sắc sảo về cục diện chính trị tại Hội nghị Paris, mà còn thấy được tình cảm sâu nặng bà dành cho gia đình, cho đồng chí, cho những người bạn quốc tế đã dang tay giúp đỡ Việt Nam trong những tháng năm gian khó nhất. Đây là nguồn tư liệu có giá trị đặc biệt đối với việc nghiên cứu lịch sử vì nó mang lại sự kết hợp sống động, chân thực, loại bỏ được độ trễ hay sự sai lệch của việc ghi chép qua người thứ ba.

Kết luận

Ý nghĩa từ câu chuyện nhân chứng Nguyễn Thị Bình nằm ở chỗ, cuộc đời của bà là một bản đồ thu nhỏ về tiến trình lịch sử vĩ đại của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX. Từ một trí thức trẻ lớn lên trong chế độ thuộc địa, thấm đẫm truyền thống gia đình để tham gia Cách mạng Tháng Tám, kinh qua những trận đòn thù ở nhà tù thực dân, rồi vươn lên trở thành "bóng hồng thép" của ngoại giao Việt Nam đánh bại đế quốc trên bàn đàm phán, và cuối cùng là một nhà lãnh đạo tận tâm, đau đáu với vận mệnh quốc gia thời bình.

Cuộc đời của bà Nguyễn Thị Bình vượt ra ngoài những ranh giới của danh hiệu hay chức vụ thông thường. Bà là tinh hoa của phụ nữ Việt Nam: "Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang". Câu chuyện về bà nhắc nhở thế hệ thanh niên Việt Nam hôm nay về cái giá của độc lập, tự do và hòa bình, đồng thời truyền cảm hứng mạnh mẽ về tinh thần cống hiến không mệt mỏi cho đất nước. Bà mãi mãi là niềm tự hào kiêu hãnh của lịch sử dân tộc trên trường quốc tế.

Nguồn Tư Liệu Tham Khảo

. Nguyễn Thị Bình, Gia đình, bạn bè, đất nước, NXB Chính trị quốc gia Sự thật (tái bản 2025).

. Các tư liệu, hình ảnh lịch sử về Hội nghị Paris (Nguồn: TTXN/VietnamPlus, Báo Nhân Dân, Báo Quân Đội Nhân Dân, Báo Dân Trí).

. Các mốc thời gian về quá trình công tác, các chức vụ lãnh đạo Đảng và Nhà nước mà bà từng đảm nhiệm (Nguồn: Cổng Thông tin điện tử Chính phủ - chinhphu.vn)

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
NGUYỄN THỊ BÌNH - TỪ NGƯỜI PHỤ NỮ HOẠT ĐỘNG CÁCH MẠNG ĐẾN NHÂN CHỨNG LỊCH SỬ CỦA HỘI NGHỊ PARIS | Câu chuyện thời hoa lửa