Bài viết

NGUYỄN THỊ CHI: MỘT BÁT CƠM, BA BÀI HÁT VÀ NGỌN LỬA TUỔI TRẺ TRÊN ĐỈNH ĐÈO BẮC THÁI

Quảng Ngãi22/10/2026Non-Smoking Club HSPH (Đại học Y tế công cộng)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

NGUYỄN THỊ CHI: MỘT BÁT CƠM, BA BÀI HÁT VÀ NGỌN LỬA TUỔI TRẺ TRÊN ĐỈNH ĐÈO BẮC THÁI

Có những khoảng không gian miền núi rừng Bắc Thái năm xưa mà mỗi khi nhớ lại, người ta như vẫn còn nghe thấy tiếng ngân vang của những nhịp cuốc gõ vào đá xám, tiếng suối rừng chảy róc rách qua cồn cát và cả tiếng cười trong trẻo của những cô gái tuổi mười tám, đôi mươi hòa vào trong làn sương mù lảng bảng. Giữa cái không khí rực lửa và ngổn ngang của những năm tháng chiến tranh chống Mỹ cứu nước, vùng đất Thái Nguyên, Bắc Kạn từng là nơi in dấu chân của hàng ngàn thanh niên xung phong mang theo hoài vọng dâng hiến trọn vẹn tuổi thanh xuân cho con đường ra tiền tuyến. Trong dòng người hăm hở rời quê nhà ấy có cô gái Nguyễn Thị Chi, người con của xã Nam Phương Tiến, huyện Chương Mỹ, Hà Nội. Bước sang tuổi hai mươi hai vào năm 1964 – cái tuổi tràn đầy những ấp ủ, mơ mộng và nét hồn nhiên của người thiếu nữ vùng ven đô – chị Chi đã xếp lại những lo toan đời thường để khoác lên mình màu áo xanh thanh niên xung phong, ngược đường lên vùng Việt Bắc bao la gánh vác sứ mệnh mở đường.

Ngày ấy, chị Nguyễn Thị Chi được biên chế vào Công trường 114, một đơn vị thanh niên xung phong nhận nhiệm vụ đặc biệt túc trực trên địa bàn Bắc Thái. Nhiệm vụ đặt trên vai những chàng trai, cô gái trẻ tuổi khi ấy vô cùng nặng nề và gian khổ: mở mới và bảo đảm giao thông cho tuyến đường chiến lược dài gần một trăm cây số nối liền hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn. Mở đường giữa thời chiến chưa bao giờ là một công việc đơn thuần dựa vào sức vóc thể lý, mà đó là một cuộc đấu trí và đấu lực từng giờ từng phút với thiên nhiên khắc nghiệt và bom đạn của kẻ thù. Tuyến đường chạy qua những dãy núi cao hiểm trở, những vực sâu hun hút và những đoạn địa hình đá hộc lở lởm chởm. Những đôi bàn tay vốn chỉ quen cầm thoi dệt hay dắt trâu ra đồng giờ đây phải học cách cầm xà no, búa đục để đục đá, dọn đất, san lấp những hố bom còn bốc khói nghi ngút. Khó khăn chồng chất khó khăn khi trên từng km đường vừa mới phát quang, bom mìn chưa nổ còn sót lại sau những trận không kích của không quân Mỹ vẫn nằm chực chờ dưới lớp đất mùn, sẵn sàng cướp đi tính mạng của những người thợ mở đường bất cứ lúc nào.

Cuộc sống của những người con gái trên Công trường 114 xoay quanh những ngày dài vắt kiệt sức lực dưới cái nắng chói chang gắt gỏng của mùa hè hay cái rét tày lay xé thịt của mùa đông Việt Bắc. Bữa ăn thời chiến mỏng manh đến xót xa, thường xuyên thiếu vắng hạt gạo trắng. Có những thời điểm ngắt quãng lương thực, khẩu phần ăn chỉ toàn là ngô bung chát đắng hay bột sắn luộc chấm với muối hạt. Cái đói cào xé ruột gan sau những giờ lao động nặng nhọc, cơn sốt rừng hành hạ khiến da dẻ những cô gái trẻ tái ngắt, mái tóc xanh mượt ngày nào rụng thưa dần vì nước suối độc. Thế nhưng, chính trong cái thiếu thốn đến tận cùng ấy, tình đồng đội lại kết chặt thành một khối bền vững, ấm áp đến lạ kỳ. Ở đơn vị của chị Nguyễn Thị Chi khi ấy đã hình thành một quy định truyền miệng vô cùng dễ thương và độc đáo: ai ăn một bát cơm thì phải hát ba bài. Không ai nhớ rõ cái "luật" ấy do ai nghĩ ra đầu tiên giữa những ngày gian khổ, nhưng nó đã mau chóng trở thành một món ăn tinh thần không thể thiếu trong mỗi bữa ăn dã chiến.

Quy định "một bát cơm, ba bài hát" nghe qua như một trò đùa rộn rã của tuổi học trò, nhưng sâu xa bên trong, đó là phương thuốc nhiệm màu để những người trẻ tuổi làm dịu đi cái đói dai dẳng và quên đi những vất vả căng thẳng sau những giờ làm việc trên công trường. Một bát cơm độn đầy sắn ngô được trao tay đi kèm với ba câu hát cất lên giữa đại ngàn. Tiếng hát cất lên từ những lồng ngực gầy gộc nhưng tràn đầy nhiệt huyết, vang xa qua những vách đá đứng sừng sững, át đi tiếng bom nổ gầm rít ở phía xa xa. Đội văn nghệ của Công trường 114 được thành lập ngay trong hoàn cảnh thiếu thốn ấy, với chị Chi là một trong những hạt nhân năng nổ nhất. Những bài hát cách mạng, những làn điệu dân ca tha thiết được cất lên giữa giờ nghỉ giải lao trên vai đèo, sau một ca trực rà phá bom mìn nghẹt thở, hay trong những đêm liên hoan lửa trại dưới thung lũng sâu. Tiếng hát không làm cho con đường dài một trăm cây số ngắn lại ngay lập tức, cũng không làm cho những quả bom ma quái bớt đi sự nguy hiểm, nhưng tiếng hát cho những người trẻ một khoảng trời riêng thanh thản để cười nói, để gửi gắm nỗi nhớ quê nhà, để nhắc nhở nhau về lý tưởng cao đẹp mà họ đang đồng lòng bảo vệ.

Năm tháng trôi qua, con đường Thái Nguyên – Bắc Kạn hoàn thành trong sự reo hò của hàng ngàn giọt mồ hôi và máu đỏ. Kháng chiến thắng lợi, chị Nguyễn Thị Chi trở về với đời thường, mang theo những kỷ niệm rực rỡ của thời thanh niên xung phong và cả những vết thương âm ỉ mỗi khi gió mùa đông bắc tràn về. Thế nhưng, rời công trường trở về quê nhà Nam Phương Tiến không có nghĩa là khó khăn đã dừng lại. Cuộc sống thời bình thử thách chị bằng một kịch bản nghiệt ngã khác: người chồng từng sát cánh bên chị qua những năm tháng gian khó mất sớm, để lại một mình chị giữa căn nhà cấp bốn đơn sơ với sáu đứa con nheo nhóc đang tuổi ăn tuổi lớn. Người phụ nữ từng đục đá mở đường năm xưa nay lại một mình đứng vững trước giông bão cuộc đời. Chị không một lời thở than, không trông chờ vào sự rủ lòng thương hại, mà lẳng lặng thức khuya dậy sớm, bám lấy từng thửa ruộng, con mương, làm đủ mọi công việc lao động tay chân nặng nhọc để chắt chiu từng đồng tiền dâng cho các con bữa ăn, cuốn sách đến trường.

Những trải nghiệm gian lao, tinh thần không lùi bước được rèn luyện từ thời thanh niên xung phong ở Công trường 114 đã trở thành bệ đỡ tinh thần vững chắc, giúp chị Chi vượt qua những ngày tháng tăm tối nhất của gia đình. Chị nuôi dạy sáu người con trưởng thành, nên người bằng chính giọt mồ hôi lương thiện và tấm lòng bao la của một người mẹ kiên cường. Khi cuộc sống gia đình dần ổn định, các con đã khôn lớn và có tổ ấm riêng, chị Chi lại không chọn cho mình một tuổi già an nhàn nghỉ ngơi. Nhìn quanh làng xóm, thấy còn nhiều đồng đội cũ thời thanh niên xung phong phải sống trong cảnh neo đơn, ốm đau, nhà cửa dột nát mà không có nhiều chế độ trợ cấp đặc biệt, lòng chị lại dấy lên sự trăn trở khôn nguôi.

Từ năm 2006, chị Nguyễn Thị Chi được các cựu thanh niên xung phong trong xã tin tưởng bầu giữ chức Chủ tịch Hội Cựu thanh niên xung phong xã Nam Phương Tiến. Nhận nhiệm vụ ở cái tuổi lục tuần, chị lại xông xáo như cô gái mười tám năm nào trên đỉnh đèo Bắc Thái. Chị chủ động vận động các nguồn lực, dốc sức xây dựng quỹ "Nghĩa tình đồng đội" tại địa phương. Bất kể ngày nắng hay ngày mưa, bóng dáng người phụ nữ nhỏ nhắn ấy lại lội qua từng con ngõ nhỏ để thăm hỏi những hội viên đau ốm, quyên góp từng tấm tôn, viên gạch để hỗ trợ sửa chữa nhà ở cho những gia đình đồng đội có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Với chị, chăm lo cho đồng đội không chỉ là trách nhiệm của một người hội trưởng, mà đó là sự tiếp nối tình nghĩa của những người đã từng cùng nhau chia sẻ chung một bát cơm, chung một làn điệu dân ca giữa chiến trường năm xưa.

Không dừng lại ở việc chăm lo cho những người cùng thế hệ, chị Chi còn luôn trăn trở về việc truyền lại ngọn lửa truyền thống cho thế hệ trẻ hôm nay. Hằng tháng, vào các ngày mùng một và ngày rằm, chị lại đều đặn vận động các đoàn viên, thanh niên và thiếu nhi trong xã tập trung về nghĩa trang liệt sĩ địa phương để quét dọn, nhổ cỏ và thắp những nén hương tri ân. Giữa không gian yên bình của nghĩa trang, người cựu thanh niên xung phong ấy lại chậm rãi kể cho các em nhỏ nghe về những con đường huyền thoại, về những đồng đội đã ngã xuống khi tuổi đời còn rất trẻ, và về câu chuyện "một bát cơm, ba bài hát" rộn rã năm nào. Những buổi gặp gỡ giản dị ấy đã trở thành những bài học lịch sử sống động, gieo vào tâm hồn lớp trẻ lòng biết ơn và niềm tự hào sâu sắc về thế hệ cha anh.

Thời gian có thể làm mái tóc chị Nguyễn Thị Chi bạc trắng theo năm tháng, có thể làm đôi bàn tay từng cầm đục mở đường trở nên gầy guộc và hằn sâu vết thời gian, nhưng nụ cười tươi tắn và ngọn lửa nhiệt huyết trong mắt chị thì chưa bao giờ dập tắt. Cuộc đời chị là một giai điệu dịu dàng nhưng vô cùng bền bỉ, trôi qua từ những đêm rừng Bắc Thái rét mướt cho đến những con đường làng Nam Phương Tiến hôm nay. Câu chuyện về một bát cơm đổi lấy ba bài hát năm xưa không chỉ là ký ức đẹp đẽ của một thời hoa lửa, mà đã trở thành bài ca về tình yêu cuộc sống, về tinh thần lạc quan và lòng vị tha vĩnh cửu của những người con gái Việt Nam kiên cường.



Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn