Nguyễn Thị Định – Cô Ba của Bến Tre và một đời vì nước, vì dân
Về với ấp Phong Điền, xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, Bến Tre, đứng trước Khu lưu niệm nữ tướng Nguyễn Thị Định, người ta dễ có cảm giác như đang trở về với một phần ký ức của vùng đất Đồng Khởi. Trong không gian lưu giữ hình ảnh, hiện vật và câu chuyện về cuộc đời bà, cái tên “cô Ba Định” được nhắc lên với tất cả sự trìu mến của người dân Bến Tre. Đằng sau hình ảnh một nữ tướng nổi tiếng là cuộc đời của một người phụ nữ đã đi qua chiến tranh với quá nhiều mất mát, nhưng chưa bao giờ để những mất mát ấy làm mình lùi bước.

Nguyễn Thị Định sinh năm 1920, là người con út trong một gia đình có 10 người con ở xã Lương Hòa. Năm 16 tuổi, khi nhiều cô gái cùng tuổi còn đang sống trong vòng tay gia đình, cô Ba Định đã bước vào con đường cách mạng. Công việc ban đầu là giao liên, rải truyền đơn, vận động quần chúng đấu tranh. Hai năm sau, bà được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Từ cô gái trẻ của vùng đất Bến Tre, bà từng bước trưởng thành trong phong trào cách mạng bằng chính sự gan dạ, bền bỉ và khả năng quy tụ lòng người.
Nhưng con đường ấy cũng sớm đặt bà trước những mất mát riêng tư không thể dễ dàng nguôi ngoai. Bà kết hôn với ông Nguyễn Văn Bích, một Tỉnh ủy viên tỉnh Bến Tre. Năm 1940, cả hai vợ chồng bị thực dân Pháp bắt. Ông Bích bị đày ra Côn Đảo rồi bị sát hại; bà bị biệt giam tại nhà tù Bà Rá. Người phụ nữ trẻ mất chồng khi tuổi đời còn rất trẻ, bản thân lại trải qua những năm tháng tù đày. Nhưng năm 1943, khi được trả tự do, bà không lựa chọn một cuộc sống bình yên cho riêng mình. Bà trở về quê hương và tiếp tục hoạt động cách mạng.
Có lẽ, từ những mất mát ấy, người ta càng hiểu vì sao Nguyễn Thị Định luôn dành một tình cảm đặc biệt cho đồng đội và nhân dân. Bà hiểu cái giá của chiến tranh không chỉ nằm trên chiến trường, mà còn nằm trong những gia đình có người ra đi không trở lại, những người vợ mất chồng, những người con mất cha và những người mẹ chờ đợi trong vô vọng.
Tháng 4/1946, bà được cử ra Bắc báo cáo với Chủ tịch Hồ Chí Minh về tình hình chiến trường Nam Bộ. Sau đó, bà nhận một nhiệm vụ đặc biệt: làm thuyền trưởng vận chuyển vũ khí từ miền Bắc vào miền Nam bằng đường biển. Chuyến đi với 12 tấn vũ khí không chỉ là một nhiệm vụ vận chuyển đơn thuần, mà còn gắn với những bước mở đầu của tuyến đường biển chi viện cho chiến trường miền Nam – sau này được biết đến với tên gọi Đường Hồ Chí Minh trên biển.
Những năm sau đó, Nguyễn Thị Định trở lại với chiến trường Nam Bộ. Từ năm 1954 đến 1959, bà là Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy Bến Tre và trở thành một trong những cán bộ bị chính quyền Ngô Đình Diệm ráo riết truy bắt. Nhưng chính trong những năm tháng ấy, hình ảnh người phụ nữ Bến Tre ngày càng gắn chặt với phong trào cách mạng.
Năm 1960, Nguyễn Thị Định được bầu làm Phó Bí thư rồi Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre. Đây là giai đoạn phong trào Đồng Khởi bùng lên mạnh mẽ. Bà cùng những người yêu nước ở Bến Tre góp phần tổ chức, lãnh đạo phong trào đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang, tạo nên một dấu mốc quan trọng của cách mạng miền Nam.
Người ta gọi bà là “cô Ba Định”, một cách gọi thân mật, gần gũi của người dân quê hương. Nhưng phía sau cái tên rất đỗi đời thường ấy là một người phụ nữ có bản lĩnh đặc biệt. Từ một cán bộ giao liên năm 16 tuổi, Nguyễn Thị Định đã trở thành người lãnh đạo phong trào Đồng Khởi ở quê hương mình, rồi đảm nhiệm trọng trách Phó Tổng Tư lệnh các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam.
Tháng 4/1974, bà được phong quân hàm Thiếu tướng, trở thành nữ tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam. Đó là một dấu mốc đặc biệt không chỉ trong cuộc đời Nguyễn Thị Định, mà còn trong lịch sử phụ nữ Việt Nam thời chiến.
Nhưng có lẽ điều làm nên sức sống lâu bền của hình ảnh Nguyễn Thị Định không chỉ là quân hàm hay những trọng trách bà từng đảm nhiệm. Đó còn là cách bà giữ mình gần với nhân dân. Ở những cương vị sau ngày đất nước thống nhất, từ Thứ trưởng Bộ Thương binh - Xã hội, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đến Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, bà vẫn được nhắc đến như một người làm việc trách nhiệm và giàu tình người.
Ngày 26/8/1992, Nguyễn Thị Định qua đời sau một cơn đau tim, hưởng thọ 72 tuổi. Một cuộc đời khép lại, nhưng cái tên “cô Ba Định” vẫn ở lại trong ký ức người dân Bến Tre và trong lịch sử dân tộc. Ngày 30/8/1995, bà được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Khu lưu niệm nữ tướng tại quê nhà được xây dựng năm 2003 trên diện tích khoảng 15.000 m², với nhà bia, đền thờ và nhà trưng bày những hình ảnh, hiện vật gắn với cuộc đời bà. Đến nơi đây, người ta không chỉ đứng trước một nhân vật lịch sử, mà còn đứng trước câu chuyện của một người phụ nữ đã nhiều lần phải lựa chọn giữa hạnh phúc riêng và trách nhiệm với đất nước.
Trong những lời đánh giá về Nguyễn Thị Định, có câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh được lưu giữ tại khu trưng bày: “Cả thế giới chỉ nước ta có vị tướng quân gái như vậy. Thật là vẻ vang cho miền Nam, cho dân tộc ta”. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh cũng từng đánh giá cao vai trò của bà trong phong trào Đồng Khởi. Giáo sư Trần Văn Giàu, trong lời đề tựa tập sách Nhớ chị Ba Định, viết: “Những người như chị, sống làm tướng, chết thành thần”.
Có lẽ, mỗi lời nhận xét đều chỉ có thể chạm đến một phần cuộc đời Nguyễn Thị Định. Bởi để hiểu “cô Ba Định”, cần nhìn cả phía sau những chiến công: một cô gái 16 tuổi bước vào cách mạng; một người vợ mất chồng vì chiến tranh; một người phụ nữ từng bị tù đày; một người mẹ, người đồng đội và người lãnh đạo đã dành phần lớn cuộc đời cho nhân dân.
Nguyễn Thị Định đã sống giữa một thời đại mà đất nước đòi hỏi mỗi người phải lựa chọn. Bà đã lựa chọn dấn thân. Và sau tất cả những mất mát, điều bà để lại không chỉ là một trang sử về nữ tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam, mà còn là một câu chuyện về lòng can đảm, sự thủy chung và một cuộc đời sống trọn nghĩa nước, tình nhà, tình đồng đội, tình nhân dân.
Đứng trước khu lưu niệm hôm nay, có lẽ điều khiến người ta xúc động nhất không phải chỉ là biết một nữ tướng đã từng giữ những trọng trách lớn lao, mà là nhận ra phía sau danh hiệu “nữ tướng” vẫn là cô Ba Định của Bến Tre – người phụ nữ đã đi từ một mái nhà ở Lương Hòa, qua những năm tháng tù đày, chiến trường và mất mát, để rồi trở thành một phần ký ức không thể phai mờ của quê hương Đồng Khởi.



