NGUYỄN THỊ ĐỊNH - NGƯỜI NỮ TƯỚNG TRUNG KIÊN CỦA NHÂN DÂN NAM BỘ
Đồng chí Nguyễn Thị Định (1920 -1992) - Nữ tướng anh hùng, nhà lãnh đạo tài năng của Đảng và cách mạng Việt Nam, người con ưu tú của quê hương Bến Tre. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, từ khi là một chiến sĩ cộng sản tham gia trong phong trào Việt Minh khởi nghĩa giành chính quyền, là Phó Bí thư, Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre, Phó Tổng Tư lệnh các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam đến khi đảm nhận trọng trách Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, đồng chí đã có đóng góp to lớn đối với phong trào
NGUYỄN THỊ ĐỊNH-NGƯỜI NỮ TƯỚNG TRUNG KIÊN CỦA NHÂN DÂN NAM BỘ
Đồng chí Nguyễn Thị Định - Nữ tướng anh hùng, nhà lãnh đạo tài năng của Đảng và cách mạng Việt Nam, người con ưu tú của quê hương Bến Tre. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, từ khi là một chiến sĩ cộng sản tham gia trong phong trào Việt Minh khởi nghĩa giành chính quyền, là Phó Bí thư, Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre, Phó Tổng Tư lệnh các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam đến khi đảm nhận trọng trách Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, đồng chí đã có đóng góp to lớn đối với phong trào Đồng khởi, với cách mạng miền Nam và sự nghiệp cách mạng chung của cả dân tộc.
Nữ tướng Nguyễn Thị Định sinh ngày 15/3/1920, là con út của 10 anh em trong một gia đình nông dân nghèo, nhưng giàu lòng yêu nước tại xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Lớn lên, Út Định trở thành một thiếu nữ xinh đẹp. Nhưng trong cảnh nước mất nhà tan, vượt qua cuộc sống bình thường của một cô thôn nữ, Út Định sớm giác ngộ và lựa chọn con đường đi theo cách mạng đầy gian khổ, tham gia phong trào Đông Dương đại hội năm 1936. Hai năm sau, tháng 10/1938, bà được đứng vào hàng ngũ của Đảng. Trong thời gian này, bà xây dựng gia đình với ông Nguyễn Văn Bích (Ba Bích) - Tỉnh ủy viên hoạt động công khai, một trong số các đồng chí cùng hoạt động. Trong kháng chiến, bà lấy tên là Ba Định (theo gọi thứ bên chồng), ngoài ra còn có các bí danh khác như Bích Vân, Ba Tấn, Ba Nhất, Ba Hận.
Mùa gió Nam tháng 3/1946, tại Thạnh Phong (nay là hai xã Thạnh Hải, Thạnh Phong, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre), bà Nguyễn Thị Định làm thuyền trưởng cùng 3 chiến sĩ vượt biển ra miền Bắc xin vũ khí về cho chiến trường miền Nam đánh Pháp. Đến tháng 11/1946, khi gió chướng nổi lên, đoàn quay về với 12 tấn vũ khí, được ngụy trang thành thuyền buôn nước mắm. Chính chuyến đi lịch sử đầu tiên này đã mở ra con đường tiếp tế vũ khí trên biển, mở ra đường Hồ Chí Minh trên biển sau này. Về lại Bến Tre, năm 1947, bà Nguyễn Thị Định được bầu vào Tỉnh ủy. Năm 1948, bà là Đoàn trưởng Phụ nữ cứu quốc tỉnh, Ủy viên Mặt trận Liên Việt tỉnh. Năm 1951, thời điểm gian khó nhất của tỉnh, đồng chí được tăng cường về làm Phó Bí thư rồi Bí thư Huyện ủy Mỏ Cày, lãnh đạo khôi phục phong trào cách mạng trên địa bàn. Có thời điểm, bà phải rời địa bàn sang đứng chân trên đất Trà Vinh, Vĩnh Long để tránh sự ruồng bố của địch. Năm 1952, bà là Đoàn trưởng Phụ nữ cứu quốc tỉnh Bến Tre. Theo sử sách ghi chép, từ năm 1947 đến 1970, đã có 27 chuyến tàu xuất phát, cập bến chuyển giao gần 4.500 tấn vũ khí, vật chất khác để chuyển đi khắp chiến trường Nam bộ. Vì vậy, có thể nói người chỉ huy đầu tiên vượt biển ra Bắc chở khí tài vào Nam chính là nữ tướng Nguyễn Thị Định trong thời kháng chiến chống Pháp.
Sau Hiệp định Genève, bà Nguyễn Thị Định được chỉ định vào Thường vụ Tỉnh ủy và được giao nhiệm vụ ở lại miền Nam hoạt động bí mật trong điều kiện cực kỳ khó khăn, gian khổ; biết bao lần vào sinh ra tử, nhưng nhờ sự yêu thương, đùm bọc của nhân dân, bà vẫn được an toàn. Cuối năm 1959, với cương vị là Phó Bí thư Tỉnh ủy, bà được cử đi tiếp thu Nghị quyết số 15 và về Bến Tre đầu năm 1960, bà trực tiếp truyền đạt lại cho Tỉnh ủy. Chính bà Nguyễn Thị Định là người gọi cuộc nổi dậy khởi nghĩa tại Bến Tre bằng khái niệm “Đồng khởi” đầu tiên và là người trực tiếp chỉ đạo cuộc “Đồng khởi” đợt 1, nổ ra ngày 17/1/1960. Từ đây, ra đời “Đội quân tóc dài” huyền thoại và phương châm tiến công địch bằng “ba mũi giáp công” - chính trị kết hợp với vũ trang và binh vận, cách đánh địch sáng tạo tuyệt vời của chiến tranh nhân dân, đã nhanh chóng lan ra toàn miền Nam, làm thất bại hết chiến lược chiến tranh này đến chiến lược chiến tranh khác của Mỹ - ngụy, đến sụp đổ hoàn toàn 30/4/1975.
Sau cuộc Đồng khởi thắng lợi vang dội, tháng 4/1960, bà Nguyễn Thị Định được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy. Đến năm 1965, tại Đại hội Phụ nữ toàn miền Nam, bà được bầu là Hội trưởng Hội Liên hiệp Phụ nữ giải phóng miền Nam. Cũng trong năm này, bà được giao nhiệm vụ Phó Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam Việt Nam, tham gia Quân ủy miền, phụ trách phong trào chiến tranh du kích. Đến ngày 17/4/1974, Nguyễn Thị Định chính thức được phong quân hàm Thiếu tướng.
Từ năm 1965 - 1975, bà đã có nhiều đóng góp xứng đáng vào thắng lợi chung của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất nước nhà. Sự có mặt của bà trong Bộ Chỉ huy Miền đã góp phần làm cho cái nhìn của lãnh đạo, chỉ huy toàn diện, thấu đáo hơn trong lãnh đạo cuộc chiến tranh nhân dân. Mùa xuân 1975, trong 5 cánh quân rầm rập tiến về giải phóng Sài Gòn, nữ tướng Nguyễn Thị Định trong vai trò Phó Tổng tư lệnh Quân giải phóng, Phó Tổng chỉ huy chiến dịch.
Sau ngày đất nước thống nhất, năm 1976, bà được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Thương binh và Xã hội (nay là Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội), được bầu làm Phó Chủ tịch thứ nhất Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV (12/1976), bà được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Từ đó, bà giữ nhiều chức vụ quan trọng của Đảng và Nhà nước như: Ủy viên Trung ương Đảng các khóa IV, V, VI; Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa VI, VII, VIII; Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (năm 1982). Từ tháng 6/1987 - 3/1992, bà giữ chức Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước. Ngoài ra, thời gian này, bà còn giữ chức Phó Chủ tịch Liên đoàn Phụ nữ dân chủ quốc tế, Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt Nam - Cuba…
Từ trong muôn vàn gian khổ, bao lần vào sinh ra tử, trải qua hai cuộc kháng chiến, cho đến khi giữ cương vị cao trong bộ máy nhà nước, bà Nguyễn Thị Định luôn giữ phẩm chất nhân ái, rộng lượng, bao dung, sống chan hòa, gần gũi, chân tình với mọi người. Bà như một người chị, người cô tận tụy chăm sóc từ cơm ăn, áo mặc cho các chiến sĩ, đồng chí, đồng đội; cảm thông sâu sắc những nỗi đau, mất mát và sự hy sinh cao cả của nhân dân, luôn chia sẻ một cách tinh tế và đầy tình người.


