Nguyễn Thị Định – Người thuyền trưởng mở lối giữa trùng khơi
Phạm Anh Thư
Trong lịch sử kháng chiến của dân tộc Việt Nam, có những người phụ nữ đã vượt qua mọi giới hạn của tuổi tác, hoàn cảnh và những định kiến thông thường để trở thành biểu tượng của lòng quả cảm. Thiếu tướng Nguyễn Thị Định là một người như thế. Cuộc đời bà gắn liền với những năm tháng đấu tranh gian khổ của quân và dân miền Nam, từ những ngày đầu hoạt động cách mạng cho đến khi đất nước thống nhất. Người phụ nữ Bến Tre ấy không chỉ nổi tiếng với tài năng lãnh đạo mà còn được biết đến là người thuyền trưởng đầu tiên đưa con thuyền vượt biển từ Nam ra Bắc xin Trung ương chi viện vũ khí, rồi đưa 12 tấn vũ khí trở lại miền Nam. Chuyến đi đầy hiểm nguy ấy sau này trở thành một trong những tiền đề quan trọng để Trung ương nghiên cứu, đánh giá và đi đến quyết định thành lập tuyến đường Hồ Chí Minh trên biển huyền thoại.
Nguyễn Thị Định, thường được gọi là Út Định, Ba Định, sinh năm 1920, là người con út thứ mười trong một gia đình có truyền thống yêu nước ở xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Tuổi thơ của bà sớm gắn với phong trào cách mạng tại quê hương. Được người anh ruột Ba Chẩn trực tiếp dìu dắt, khi mới 16 tuổi, Nguyễn Thị Định đã tham gia vận động quần chúng, đi liên lạc, rải truyền đơn và vận động nông dân đứng lên chống lại sự áp bức, bóc lột của cường hào, ác bá. Năm 1938, bà được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương và xây dựng gia đình với đồng chí Nguyễn Văn Bích, một cán bộ hoạt động cách mạng tại Bến Tre. Nhưng những ngày bình yên chẳng kéo dài. Từ năm 1940, thực dân Pháp tăng cường khủng bố, nhiều cơ sở cách mạng bị phá vỡ, hàng loạt đảng viên bị bắt và tù đày ở Côn Đảo, trong đó có chồng bà. Nguyễn Thị Định cũng bị bắt đưa đi giam giữ tại Bà Rá. Sau những tháng ngày chịu đòn roi và sự đàn áp của kẻ thù, đến năm 1943, bà cùng một số đồng chí thoát khỏi nhà tù, trở về địa phương tiếp tục hoạt động. Không lâu sau, bà nhận tin chồng đã hy sinh ngoài Côn Đảo. Nỗi đau mất chồng không thể khiến người phụ nữ trẻ gục ngã. Nguyễn Thị Định vừa nuôi con, vừa tiếp tục dấn thân vào con đường cách mạng, mang theo nỗi đau riêng hòa vào nỗi đau chung của đất nước.
Tháng 3 năm 1946, khi đang giữ cương vị Ủy viên Ban Chấp hành Hội Phụ nữ cứu quốc tỉnh, Nguyễn Thị Định nhận nhiệm vụ đặc biệt từ Khu ủy Khu 8 và Tỉnh ủy Bến Tre: cùng đoàn đại biểu quân dân chính Khu đi bằng đường biển ra Trung ương để báo cáo tình hình cách mạng miền Nam và xin chi viện vũ khí cho quân dân Nam Bộ đánh Pháp. Đoàn gồm đồng chí Đoàn Văn Trường, Tư lệnh Khu 8, nhà giáo Ca Văn Thỉnh, bác sĩ Trần Hữu Nghiệp và người phụ nữ duy nhất là Nguyễn Thị Định. Phương tiện của họ chỉ là một con thuyền gỗ nhỏ, chèo bằng tay và dùng buồm đón gió, được ngụy trang như một chiếc thuyền đánh cá. Cuối tháng 3-1946, từ Cồn Lợi, xã Thạnh Phong, huyện Thạnh Phú, con thuyền lặng lẽ rời bờ, vượt ra biển Đông rồi chuyển hướng lên phía Bắc. Giữa biển cả mênh mông, các thành viên phải dựa vào la bàn, thời tiết, hướng gió và những vì sao ban đêm để xác định phương hướng. Những tình huống có thể gặp tàu tuần tra của địch hay sự cố trên biển đều được tính toán trước. Nhờ sự gan dạ, thông thạo sông nước và khả năng chèo thuyền từ nhỏ, Nguyễn Thị Định, khi ấy mới 26 tuổi, được giao làm thuyền trưởng. Chuyến đi tưởng như chỉ có thể dựa vào lòng can đảm ấy nhanh chóng gặp thử thách. Sau hai ngày lênh đênh, gió mạnh khiến cột buồm bị gãy, đoàn phải đưa thuyền vào bờ. Nơi họ tìm đến là mũi Kê Gà, tỉnh Phan Thiết, khi ấy đã bị Pháp chiếm đóng. Đoàn dự định bắt liên lạc để đi bộ xuyên rừng núi ra Khu 5, nhưng may mắn gió chuyển hướng Tây - Nam, giúp họ thuê được một con thuyền khác và tiếp tục hành trình. Lần thứ hai thuyền phải vào bờ là tại Phú Yên, một vùng tự do lúc bấy giờ. Từ đây, chính quyền cách mạng địa phương tiếp đón và tổ chức giao liên đưa đoàn theo đường bộ ra Quảng Ngãi. Tại Quảng Ngãi, Tư lệnh Khu 5 Nguyễn Sơn đón đoàn và bố trí phương tiện đưa họ ra Hà Nội bằng xe lửa.
Tại Hà Nội, đoàn vinh dự được gặp Bác Hồ và trực tiếp trình bày nguyện vọng xin Trung ương chi viện vũ khí cho miền Nam. Nghe Bác nói: “Thế nào Trung ương và Chính phủ cũng có súng gửi vào Nam. Nhưng nước ta còn nghèo, các cô các chú về, phải đánh Pháp cho giỏi, cướp lấy súng của nó dùng thì cái vốn đó mới nhiều”, cả đoàn vô cùng xúc động. Sau khi kết thúc chuyến đi, Nguyễn Thị Định không trở về miền Nam tay không. Bà đi thẳng vào Quảng Ngãi, nơi đặt trụ sở của Ủy ban kháng chiến miền Nam Việt Nam, để nhận súng, tiền và tài liệu Trung ương chi viện cho Xứ ủy Nam Bộ. Khi vào tận kho nhận phần vũ khí dành cho Khu 8, bà còn mạnh dạn xin thêm và nói: “Tôi mang một cây mà bị lộ thì tôi cũng chết, các anh cho tôi một ngàn cây tôi đi một chuyến cho đáng”. Sau đó, các thành viên khác trong đoàn ở lại miền Bắc nhận nhiệm vụ mới, còn Nguyễn Thị Định trực tiếp chỉ huy con thuyền chở vũ khí quay trở lại miền Nam. Đi cùng bà có đồng chí Phong, cán bộ vô tuyến điện của Trung ương được bổ sung cho Khu 8, hai đồng chí Vệ quốc đoàn của Quảng Ngãi và bốn người dân buôn bán gạo ở Gò Công. Hành trình trở về diễn ra đúng mùa mưa, biển động dữ dội, trong khi quân Pháp liên tục tuần tiễu. Thủy thủ đoàn phải hết sức bình tĩnh, khéo léo vượt qua các trạm kiểm soát của địch; trong tình huống nguy hiểm nhất, họ đã chuẩn bị cả phương án cho nổ tung con thuyền để không để vũ khí rơi vào tay kẻ thù.
Khi con thuyền chở vũ khí về đến vùng biển Thạnh Phong, Bến Tre, một sự cố lại xảy ra. Do cập bờ lúc nước ròng và giữa đêm tối, thuyền bị mắc cạn. Nguyễn Thị Định quyết định một mình xuống thuyền thúng bơi vào bờ để bắt liên lạc. Đây là loại thuyền tròn mà bà đã được ngư dân Phú Yên hướng dẫn cách sử dụng. Dân quân tự vệ xã Thạnh Phong phát hiện một “thuyền lạ và người lạ” nên giữ bà lại để xét hỏi. Sau khi vừa trả lời, vừa xác định tình hình và chứng minh mình là “quân ta”, bà lập tức liên lạc với chỉ huy du kích địa phương, truyền đạt chỉ đạo khẩn cấp đưa toàn bộ số vũ khí vào nơi tập kết ngay trong đêm. Con thuyền chở vũ khí từ Bắc vào Nam lần đầu tiên cuối năm 1946 đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử. Sau này, khi nhớ lại chuyến đi, Nguyễn Thị Định kể: “Ra đó, tôi chỉ chăm bẵm xin vũ khí. Gặp Bác không nói được nhiều mà khóc nhiều. Bác cũng không cầm nước mắt khi nhắc đến đồng bào miền Nam còn nhiều khó khăn, gian khổ”. Số vũ khí được đưa về sau đó bàn giao cho đồng chí Trần Văn Trà, Tư lệnh Khu 8. Nhắc lại thời khắc ấy, ông từng xúc động nói: “Phải nói tôi vô cùng vui mừng và phấn khởi khi tiếp nhận số vũ khí, đạn dược do chị và một số thủy thủ dũng cảm từ miền Nam Trung Bộ đã mất bao công lao vượt qua nguy hiểm mới đưa đến chiến trường đang thiếu thốn súng đạn…Đây là món quà chi viện vô cùng quý giá, rất đúng lúc của Trung ương, của Bác gửi cho quân và dân Nam Bộ, lần đầu tiên được đưa đến tận tay chiến sĩ”. Chuyến vượt biển ấy không chỉ giải quyết phần nào tình trạng thiếu thốn vũ khí của quân dân miền Nam mà còn chứng minh khả năng mở tuyến vận chuyển bằng đường biển. Từ đó, hành trình của người nữ thuyền trưởng Nguyễn Thị Định trở thành tiền đề quan trọng để Trung ương nghiên cứu và tiến tới thành lập tuyến đường Hồ Chí Minh trên biển.
Không chỉ thể hiện bản lĩnh trên biển, Nguyễn Thị Định còn là một nhà lãnh đạo xuất sắc trong phong trào cách mạng tại Bến Tre. Tối ngày 02-01-1960, tại xã Tân Trung, cù lao Minh, cuộc họp Tỉnh ủy mở rộng được tổ chức để bàn kế hoạch thực hiện Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng và chủ trương nổi dậy của Liên Tỉnh ủy. Tại đây, Nguyễn Thị Định nhấn mạnh: “Phát động quần chúng, trong đó chú trọng vận động gia đình binh sĩ nổi dậy phá hệ thống kìm kẹp ở xã, ấp, trừng trị bọn tay sai chỉ điểm, bọn ác ôn trong bộ máy tề xã, tề ấp, dân vệ, kết hợp với cơ sở trong lòng địch để bức hàng, bức rút, lấy đồn, giải phóng xã, ấp”. Tỉnh ủy Bến Tre quyết định phát động tuần lễ toàn dân nổi dậy, lấy cù lao Minh gồm ba huyện Minh Tân, Mỏ Cày, Thạnh Phú làm điểm đầu tiên. Trước lực lượng địch đông và ngoan cố, Nguyễn Thị Định cùng các Tỉnh ủy viên đã tìm ra nhiều cách đánh linh hoạt: khi thiếu súng thì kết hợp giáo mác, gậy gộc; khi ít quân thì dùng nghi binh, thậm chí giả làm bộ đội chủ lực để khiến đối phương hoang mang. Đặc biệt, bà đã phát huy sức mạnh của quần chúng, nhất là phụ nữ. Hơn năm ngàn phụ nữ ở Phước Hiệp, Bình Khánh, Thành Thới, từ thanh niên đến những người lớn tuổi, đầu đội khăn tang, mặc áo rách, bồng con kéo vào quận Mỏ Cày đòi chấm dứt khủng bố, trừng trị bọn ác ôn. Cuộc đấu tranh kéo dài nhiều ngày đêm, lực lượng ngày càng đông, khí thế ngày càng mạnh, cuối cùng tên quận trưởng phải rút toàn bộ lính khỏi xã Phước Hiệp. Từ phong trào ấy, một hình thức đấu tranh độc đáo ra đời và khiến quân địch khiếp sợ: “Đội quân tóc dài”.
Năm 1965, Nguyễn Thị Định được Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị, Chính ủy Bộ Chỉ huy miền Nam, gặp và trao quyết định của Bộ Chính trị giao bà giữ cương vị Phó tư lệnh các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam. Trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ, bà cùng Bộ Chỉ huy miền Nam gắn bó với nhân dân, lãnh đạo cách mạng đi qua nhiều thử thách và góp phần vào sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Tháng 4-1974, Nguyễn Thị Định được phong quân hàm Thiếu tướng, trở thành nữ tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam. Sau ngày đất nước thống nhất, bà được chuyển về Hà Nội và tiếp tục đảm nhiệm nhiều cương vị quan trọng. Tháng 6-1987, bà được bầu làm Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, trở thành nữ Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên cương vị mới, bà tiếp tục thể hiện sự quyết đoán, sâu sát và bản lĩnh của một nhà lãnh đạo; trong hoạt động đối ngoại, sự mềm mỏng nhưng kiên định của bà cũng để lại ấn tượng sâu sắc với bạn bè quốc tế.
Thiếu tướng Nguyễn Thị Định từ trần ngày 26-8-1992. Ba năm sau, ngày 30-8-1995, bà được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân để ghi nhận những đóng góp to lớn đối với đất nước. Người dân xã Hát Môn, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội đã rước bát hương bà về thờ trong Đền Hai Bà Trưng. Tại Khu lưu niệm Nguyễn Thị Định ở Giồng Trôm, Bến Tre, câu nói của Giáo sư Trần Văn Giàu được khắc lại như một lời tổng kết đầy xúc động về cuộc đời bà: “Những người như chị sống làm tướng, chết thành thần”. Tên Nguyễn Thị Định hôm nay vẫn được đặt cho nhiều con đường, trường học trên khắp đất nước. Từ cô gái Bến Tre 16 tuổi bước vào con đường cách mạng, đến người phụ nữ 26 tuổi chèo lái con thuyền vượt trùng khơi, rồi nữ tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam, cuộc đời Nguyễn Thị Định đã trở thành một câu chuyện đặc biệt về lòng can đảm, trí tuệ và sức mạnh của người phụ nữ Việt Nam.



