Anh hùng Lực lượng vũ trang

Nguyễn Thị Định và cuộc Đồng Khởi (1)

Đầu năm 1960, trước sự đàn áp khốc liệt của chính quyền Ngô Đình Diệm, Tỉnh ủy Bến Tre quyết định phát động nhân dân đồng loạt nổi dậy. Nguyễn Thị Định, khi ấy là Phó Bí thư Tỉnh ủy, trực tiếp truyền đạt Nghị quyết 15 của Trung ương, cùng tập thể lãnh đạo lựa chọn ba xã Định Thủy, Phước Hiệp và Bình Khánh thuộc huyện Mỏ Cày làm điểm mở đầu. Ngày 17/1/1960, nhân dân ba xã đồng loạt đứng lên, phá vỡ bộ máy kiểm soát ở cơ sở và giành quyền làm chủ. Từ phong trào ấy xuất hiện lực lượng đấu tranh chí

Đồng Tháp02/07/2026ĐOÀN XÃ TÂN DƯƠNG - TỈNH ĐỒNG THÁP (ĐOÀN XÃ TÂN DƯƠNG - TỈNH ĐỒNG THÁP)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

1. Người con gái xứ dừa sớm đi theo cách mạng

Nguyễn Thị Định sinh năm 1920 tại xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, trong một gia đình nông dân có truyền thống yêu nước. Năm 16 tuổi, bà bắt đầu tham gia phong trào cách mạng, làm nhiệm vụ liên lạc, rải truyền đơn và vận động nhân dân đấu tranh chống áp bức. Năm 1938, bà được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.

Năm 1940, chồng bà là Nguyễn Văn Bích bị bắt, đày ra Côn Đảo và hy sinh tại đó. Không lâu sau, Nguyễn Thị Định cũng bị bắt và đưa đi giam tại Bà Rá. Năm 1943, bà được trở về địa phương, chịu sự quản thúc, rồi bí mật nối lại liên lạc với tổ chức cách mạng. Tháng Tám năm 1945, bà tham gia cuộc khởi nghĩa giành chính quyền tại Bến Tre.

Năm 1946, Nguyễn Thị Định cùng một đoàn đại biểu Nam Bộ vượt biển ra miền Bắc báo cáo tình hình và xin Trung ương chi viện vũ khí. Khi trở lại miền Nam, bà làm trưởng đoàn vận chuyển khoảng 12 tấn vũ khí về phục vụ cuộc kháng chiến ở Nam Bộ. Kinh nghiệm hoạt động, tổ chức quần chúng và xử lý những tình huống nguy hiểm trong các năm kháng chiến đã góp phần hình thành bản lĩnh của người nữ cán bộ sau này gắn liền với cuộc Đồng Khởi.

2. Bến Tre trong những năm bị đàn áp

Sau Hiệp định Genève năm 1954, Bến Tre trở thành một địa bàn bị chính quyền Ngô Đình Diệm tập trung kiểm soát và bình định. Nhiều cán bộ, đảng viên và cơ sở cách mạng bị truy bắt; phong trào quần chúng gặp tổn thất lớn. Nguyễn Thị Định và các cán bộ Tỉnh ủy phải liên tục thay đổi nơi ở, hình thức cải trang và dựa vào sự che chở của nhân dân để duy trì hoạt động.

Trong những năm này, người dân chịu sự kiểm soát của bộ máy chính quyền, dân vệ, công an và hệ thống chỉ điểm tại các xã, ấp. Hoạt động cách mạng chủ yếu nhằm bảo vệ lực lượng và duy trì cơ sở. Tuy nhiên, chỉ giữ gìn lực lượng mà không có phương thức đấu tranh mới thì phong trào có nguy cơ tiếp tục bị thu hẹp.

Tháng 1/1959, Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng xác định cách mạng miền Nam cần dựa vào sức mạnh của quần chúng, kết hợp đấu tranh chính trị với lực lượng vũ trang để chống lại bộ máy thống trị và giành quyền làm chủ. Cuối năm 1959, Nghị quyết 15 được truyền đạt đến các địa phương miền Nam.

3. Nguyễn Thị Định tiếp nhận Nghị quyết 15

Nguyễn Thị Định, lúc đó là Phó Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre, được cử đến căn cứ Khu ủy tại Đồng Tháp Mười để tiếp thu Nghị quyết 15 và chủ trương của cấp trên. Sau khi trở về, bà cùng tập thể Tỉnh ủy khẩn trương nghiên cứu cách áp dụng nghị quyết phù hợp với tình hình Bến Tre.

Ngày 1/1/1960, tại ấp Tân Huế, xã Minh Đức, huyện Mỏ Cày, Nguyễn Thị Định tổ chức cuộc họp để phổ biến tinh thần nghị quyết và bàn kế hoạch nổi dậy. Chủ trương được xác định là phát động quần chúng phá hệ thống kiểm soát tại xã, ấp; vận động gia đình binh sĩ; kết hợp với cơ sở bên trong hàng ngũ đối phương để buộc các đồn bốt đầu hàng hoặc rút đi.

Trong cuộc họp chuẩn bị kéo dài từ ngày 1 đến ngày 3/1, các cán bộ thảo luận rất kỹ về lực lượng, địa bàn, thời cơ và cách phối hợp. Theo hồi ký Nguyễn Thị Định, sau khi tổng hợp các ý kiến, bà kết luận cần phát động một tuần lễ toàn dân cùng nổi dậy; cách gọi “Đồng Khởi” được sử dụng để diễn đạt tinh thần đồng lòng khởi nghĩa ấy. Tuy nhiên, tư liệu hiện còn chưa đủ để khẳng định tuyệt đối ai là người đầu tiên sáng tạo ra hai chữ “Đồng Khởi”.

Ngày 12/1/1960, Nguyễn Thị Định đến Bình Khánh gặp Nguyễn Tâm Cang, Tỉnh ủy viên phụ trách quân sự và binh vận, để thống nhất kế hoạch. Ba xã Định Thủy, Phước Hiệp và Bình Khánh thuộc huyện Mỏ Cày được lựa chọn làm điểm vì đây là khu vực có cơ sở cách mạng, quần chúng và điều kiện phối hợp tương đối thuận lợi.

4. Ngày 17/1/1960 tại Định Thủy

Sáng 17/1/1960, tại xã Định Thủy, tổ hành động của địa phương mở đầu cuộc nổi dậy bằng việc đánh vào lực lượng đàn áp do Đội Tý, chỉ huy Tổng đoàn dân vệ tổng Minh Đạt, cầm đầu. Cùng thời điểm đó, các cơ sở bên trong vận động binh lính và dân vệ không chống lại nhân dân.

Quần chúng từ các ấp kéo ra đường, phối hợp với lực lượng tự vệ bao vây các vị trí chính quyền, kêu gọi binh lính bỏ hàng ngũ và thu giữ vũ khí. Tại công sở Định Thủy, lực lượng cách mạng vận động một tiểu đội dân vệ đầu hàng, làm tan rã bộ máy kiểm soát tại xã.

Đêm 17/1, hàng nghìn người dân Định Thủy trương cờ, đốt đuốc và tổ chức mít-tinh mừng thắng lợi. Chính quyền cách mạng ở cơ sở từng bước được thiết lập; nhân dân bắt đầu làm chủ thôn, xã thay cho bộ máy kiểm soát cũ.

5. Phước Hiệp và Bình Khánh cùng nổi dậy

Từ Định Thủy, lực lượng cách mạng nhanh chóng hỗ trợ Phước Hiệp và Bình Khánh. Tại Phước Hiệp, các tổ xung kích và quần chúng bao vây đồn, vận động dân vệ không chống cự. Sau thời gian giằng co, lực lượng tại đồn rút đi và đến ngày 18/1, xã Phước Hiệp được giải phóng.

Tại Bình Khánh, quần chúng nổi trống, mõ, la vang và đồng loạt bao vây các vị trí của chính quyền địa phương. Trước khí thế đông đảo của nhân dân và sự phối hợp của lực lượng tự vệ, bộ máy tề xã, dân vệ tan rã, nhiều người bỏ vị trí.

Như vậy, chỉ trong khoảng hai ngày 17 và 18/1/1960, cuộc nổi dậy tại ba xã điểm đã giành thắng lợi. Từ những lực lượng ban đầu còn ít và trang bị thiếu thốn, phong trào đã huy động được đông đảo nhân dân cùng tham gia, làm thay đổi tương quan lực lượng tại cơ sở.

6. Làn sóng Đồng Khởi lan rộng

Thắng lợi tại Định Thủy, Phước Hiệp và Bình Khánh nhanh chóng lan ra các xã khác của huyện Mỏ Cày, rồi đến Giồng Trôm, Châu Thành, Ba Tri, Thạnh Phú và nhiều khu vực khác của Bến Tre. Trong tuần lễ đầu, hàng chục đồn bốt bị buộc phải rút hoặc đầu hàng, nhiều xã giành được quyền làm chủ.

Điểm nổi bật của Đồng Khởi Bến Tre là sự phối hợp giữa lực lượng chính trị đông đảo của quần chúng, các tổ tự vệ và vũ trang, cùng công tác vận động binh lính. Phương thức này sau đó được khái quát thành “hai chân, ba mũi”: hai lực lượng chính trị và vũ trang; ba mũi tiến công gồm chính trị, quân sự và binh vận.

Từ Bến Tre, phong trào Đồng Khởi phát triển ra nhiều địa phương Nam Bộ, Tây Nguyên và một số nơi tại Trung Trung Bộ. Thắng lợi này góp phần đưa cách mạng miền Nam chuyển từ thế chủ yếu giữ gìn lực lượng sang thế tiến công.

7. Sự ra đời của “Đội quân tóc dài”

Sau thắng lợi ban đầu, chính quyền Sài Gòn tập trung lực lượng mở những cuộc hành quân nhằm tái chiếm ba xã Định Thủy, Phước Hiệp và Bình Khánh. Trước tình hình đó, Tỉnh ủy Bến Tre chủ trương huy động quần chúng đấu tranh trực diện, đồng thời đẩy mạnh công tác vận động binh sĩ để hạn chế thương vong cho nhân dân.

Hàng nghìn phụ nữ từ các xã dùng ghe, xuồng kéo về quận lỵ Mỏ Cày. Nhiều người mang theo người già, trẻ nhỏ và đồ dùng sinh hoạt, thực hiện hình thức đấu tranh thường được gọi là “tản cư ngược”. Họ yêu cầu chấm dứt càn quét, cứu chữa người bị thương, giúp đỡ những gia đình bị thiệt hại và rút lực lượng khỏi các xã. Cuộc đấu tranh kéo dài 12 ngày đêm, tạo sức ép lớn khiến cuộc hành quân không đạt được mục tiêu.

Lực lượng phụ nữ ấy lúc đầu không phải một đơn vị quân đội chính quy. Đó là phong trào đấu tranh chính trị và binh vận rộng lớn, gồm các bà mẹ, người vợ, phụ nữ trẻ và những người có thân nhân trong hàng ngũ đối phương. Họ không có vũ khí, nhưng có khả năng tập hợp đông người, đưa ra lý lẽ, phân hóa binh lính và kiên trì đối mặt với sự đàn áp.

Từ thực tế đó, tên gọi “Đội quân tóc dài” ra đời. Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy và dấu ấn nổi bật của Nguyễn Thị Định, lực lượng này ngày càng phát triển, trở thành một hình thức đấu tranh độc đáo của phụ nữ miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.

8. Vai trò của Nguyễn Thị Định

Cuộc Đồng Khởi Bến Tre không phải thành quả của riêng một cá nhân mà là kết quả của sự lãnh đạo tập thể của Tỉnh ủy, sự chuẩn bị của các cơ sở cách mạng và sức mạnh nổi dậy của đông đảo nhân dân. Tuy nhiên, Nguyễn Thị Định có vai trò đặc biệt trong việc tiếp thu chủ trương của cấp trên, truyền đạt Nghị quyết 15, tổ chức các cuộc họp chuẩn bị và trực tiếp chỉ đạo đợt nổi dậy đầu tiên tại ba xã điểm.

Điểm nổi bật trong cách lãnh đạo của bà là biết dựa vào nhân dân, đặc biệt là phát huy vai trò của phụ nữ. Thay vì chỉ đối đầu bằng lực lượng vũ trang còn nhỏ bé, bà cùng Tỉnh ủy kết hợp nhiều hình thức: nổi dậy của quần chúng, vận động binh lính, sử dụng cơ sở bên trong và tổ chức lực lượng tự vệ hỗ trợ.

Sau thắng lợi Đồng Khởi, Nguyễn Thị Định được giao làm Bí thư Tỉnh ủy và Chủ tịch Mặt trận Giải phóng tỉnh Bến Tre. Năm 1965, bà giữ chức Phó Tư lệnh các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam và Hội trưởng Hội Liên hiệp Phụ nữ Giải phóng miền Nam. Tháng 4/1974, bà được phong quân hàm Thiếu tướng, trở thành nữ tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Nguyễn Thị Định từ trần ngày 26/8/1992. Ngày 30/8/1995, bà được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Nguyễn Thị Định và cuộc Đồng Khởi (1) | Câu chuyện thời hoa lửa