Nguyễn Thị Hạnh – ngọn đuốc bưng biền thắp giữa lòng địch
Ngay sau Hiệp định Giơnevơ 1954, khi đất nước vừa tạm yên tiếng súng, bầu trời Nam Bộ lại nổi giông. Mỹ hất cẳng Pháp, dựng lên bộ máy Ngô Đình Diệm và mở cuộc bình định khốc liệt. Từ 1961, “ấp chiến lược” mọc lên dày đặc, như những chiếc lồng sắt trùm xuống đầu dân quê. Nhưng ở xứ bưng biền Mỹ Hạnh, vẫn có một người con gái nhỏ bé đứng lên, xé toạc lớp lưới thép ấy bằng ý chí kiên gan và trí mưu lặng lẽ. Người ấy là Nguyễn Thị Hạnh, nữ Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, sinh năm 1937 tại xã Mỹ Hạnh, huyện Đức Hòa, Long An. Hạnh lớn lên trong một gia đình nghèo, cha mất sớm, mẹ lam lũ nuôi đàn con. Hai anh chị tham gia chống Pháp rồi tập kết ra Bắc, để lại phía sau một mái nhà luôn bị lính Diệm dòm ngó. Nhưng chính sự khắc nghiệt ấy nuôi lớn bên trong cô bé Hạnh một bản tính cứng cỏi khác thường. Người làng kể từ nhỏ chị đã ham học võ, hay đánh lộn, lại gan hơn tuổi. Ngày ngày lội bưng bắt cá đem về phụ mẹ nuôi cán bộ giấu trong hầm bí mật; đêm xuống, khi những chú du kích bước lên khỏi hầm để đi hoạt động, chị nằm im nghe tiếng cựa áo, tiếng thở rất khẽ như hơi thở của chính quê hương đang gắng gượng vượt đêm đen. Những năm 1959–1961, khi địch đưa máy chém về đặt ngay giữa chợ, dân xứ này sống trong nỗi ám ảnh máu đổ đầu rơi. Nhà Hạnh cũng bao phen suýt bị khám xét, nhưng mẹ chị không hề lung lay. Đêm nào hầm cũng sáng ánh đèn dầu, gạo giã ngoài bưng để tránh tiếng động, còn Hạnh lén mang cơm vào ấp chiến lược tiếp tế cho cán bộ như một thói quen không cần dặn. Giữa lúc quê hương chìm trong khói lửa, chuyện tình của Hạnh cũng rực lên như một đốm sáng ngắn ngủi. Chị thương anh Chẩn – người thanh niên trong xã – nhưng trước khi kịp tính chuyện trầu cau, anh bị địch bắt đày đi xa. Đến khi anh trốn trại trở về, họ mới cưới nhau được vài tháng. Vậy mà chính Hạnh lại là người động viên chồng đi bộ đội, còn mình ở lại chịu mọi hiểm nguy. Má chồng và má ruột đều chuyển đi nơi khác, chị một mình dựng tạm một cái chòi bên bờ rạch. Đêm nằm nghe nước chảy, lòng chị càng nung nấu quyết tâm trả thù cho quê hương đã chịu quá nhiều đớn đau. Năm 1963, ba tiểu đoàn chủ lực cùng biệt động quân của Mỹ – Diệm đổ về càn quét Mỹ Hạnh. Chúng cào sập từng mái nhà, san phẳng ruộng vườn, rồi lùa dân vào ấp chiến lược – thứ nhà tù khổng lồ được tô vẽ bằng hai chữ “an ninh”. Trong lúc nhiều người hoảng loạn, Hạnh nhận nhiệm vụ xâm nhập ấp để hoạt động nội tuyến. Chị giả vờ chữa bệnh, ăn mặc như người quê lam lũ, ngày ngày đi lại giữa những trạm gác dày đặc. Vậy mà giữa vòng vây ấy, chị gây dựng cơ sở cách mạng, tìm ra từng kẻ điệp ngầm, vận động dân tin vào Mặt trận, tổ chức được tới 74 cơ sở, 37 du kích mật và 37 hạt nhân nòng cốt – một điều tưởng như bất khả thi trong môi trường “kín như hũ nút”. Có lần trên đường nhận chỉ thị phá ấp chiến lược trở về, Hạnh bị toán lính tuần tra chặn lại. Chị nhanh trí tạt vào nhà y tế, thản nhiên bảo “tôi đi chích thuốc”, còn bà già trong nhà cũng kịp chạy ra nhận chị là cháu. Người y tá phụ họa thêm rằng ngày nào chị cũng tới làm thuốc, khiến bọn lính không có cớ bắt. Đêm đó, Hạnh dẫn bộ đội về bao vây đồn, du kích mật hạ cờ “ba que” xuống, treo cờ Mặt trận lên trong tiếng hò reo nghẹn nước mắt. Hai mươi mốt tên tề, điệp bị bắt; hàng trăm người dân phá rào kẽm gai trở về ruộng vườn cũ như chim mở cửa lồng. Bốn năm 1963–1966, Hạnh chiến đấu miệt mài, trực tiếp tham gia hàng chục trận lớn nhỏ. Trong từng trận đánh, chị luôn hiện diện ở điểm hiểm yếu nhất. Có hôm chị ngồi trên xe bò chở lúa, mắt đảo quanh quan sát hỏa lực địch, rồi về vẽ lại sơ đồ cho bộ đội. Có hôm chị dắt xe đạp qua đồn lính, vừa đi vừa đếm bước chân để xác định cự ly pháo kích chính xác. Nhiều lần chị gói mìn, lựu đạn, truyền đơn trong đống quần áo, đeo giỏ ngang qua chốt gác như một cô gái đi chợ thông thường. Một mình chị tiêu diệt 19 tên, còn toàn đơn vị dưới sự chỉ huy của chị loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên, phá hủy 10 xe cơ giới, thu 50 khẩu súng. Trong một trận đánh đầy táo bạo, Hạnh tận dụng một quả pháo lép 105mm – thứ mà lính địch tưởng như vô hại. Chị nhờ một người nông dân giấu pháo dưới đống cỏ chở vào ấp. Đêm đến, chị lén đặt trái pháo ngay cổng ấp, kéo dây điện nhử qua hồ nước rồi chôn dưới rơm mục. Sáng hôm sau, khi tám tên lính tụ tập trò chuyện ngay trước cổng ấp, chị lặng lẽ nấp trong vườn chuối. Đợi khoảnh khắc vừa đủ, chị chập điện. Một tiếng nổ chát chúa khiến cả ấp náo loạn, còn chị thì cởi áo trắng, mặc áo xanh bên trong và bình thản đạp xe đi như không hề liên quan. Không ai ngờ người phụ nữ nhỏ thó ấy lại vừa khiến kẻ thù kinh hồn bạt vía. Không chỉ chiến đấu, Hạnh còn biết gây thanh thế cho cách mạng. Chị tổ chức những buổi mít tinh ngay giữa ấp chiến lược, phối hợp du kích lùng bắt ác ôn, đưa cán bộ về nói chuyện với dân. Chị còn vận động được lính pháo bắn quả đầu không nổ để báo hiệu cho dân xuống hầm trước khi pháo thật rót xuống. Nhờ đó, hàng trăm quả đạn lép được thu gom, mang lại nguồn vũ khí quý cho lực lượng du kích. Giữa vô vàn hiểm nguy, Hạnh vẫn luôn giữ vẻ bình thản. Người dân trong ấp gọi chị bằng giọng trìu mến: “Con nhỏ Hạnh nói ngọt mà làm dữ lắm”. Chính nhờ sự gan góc và mưu trí ấy, chị trở thành trung đội trưởng du kích, cán bộ quân báo, cán bộ binh vận xuất sắc. Năm 1965 và 1966, chị liên tiếp là chiến sĩ thi đua cấp tỉnh. Tại Đại hội Anh hùng chiến sĩ thi đua toàn miền Nam năm 1967, chị được tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, trở thành biểu tượng của Long An “trung dũng, kiên cường”.
Năm 1972, trong một trận chống càn của địch, Nguyễn Thị Hạnh hy sinh. Chị ngã xuống giữa vùng đất mình đã gắn bó từ thuở lội đồng bắt cá, ngã xuống như một cánh lúa chín đậm hương quê, để lại nỗi tiếc thương khôn nguôi trong lòng dân Mỹ Hạnh. Nhưng tinh thần của chị không mất đi. Mỗi dịp giỗ, người dân, cựu chiến binh, thầy trò Trường Tiểu học Nguyễn Thị Hạnh đều đến thắp nén nhang, kể cho nhau nghe câu chuyện về người con gái đã dám đứng lên phá tan ấp chiến lược, dám một mình thách thức cả guồng máy bình định khổng lồ của Mỹ – Diệm. Ngày nay, khi đi qua Mỹ Hạnh Nam, người ta có cảm giác bóng chị vẫn thấp thoáng đâu đó trong tiếng gió thổi qua rặng tràm, trong bước chân học trò chăm sóc tượng chị ở sân trường. Chị là ký ức, là niềm tự hào, và là minh chứng rằng từ bưng biền nước nổi, vẫn có thể mọc lên những con người kiêu hãnh như ngọn lửa – cháy rực, nhưng ấm áp và dẫn đường.


