Mẹ Việt Nam Anh hùng

Nguyễn Thị Kiêm

Mẹ Nguyễn Thị Kiêm

An Giang07/04/2026Đoàn Trường CĐSP KIên Giang (Đoàn Trường CĐSP KIên Giang)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

“Ráng ăn thêm muỗng nữa nha bà. Nuốt từ từ thôi, coi chừng sặc nha. Rồi, vậy đó. Giờ tui lấy nước cho bà uống thông giọng, xong lát nữa uống thêm ly sữa hén”. Vừa dỗ dành người vợ 83 tuổi - bà Nguyễn Thị Kiêm như một đứa trẻ, người chồng 88 tuổi - ông Võ Thành Lâm vừa kiên nhẫn đút bà ăn đến hết tô bánh canh, xong ông tất tả gom quần áo bẩn vừa thay ra cho bà đem ra sau nhà giặt giũ, cẩn thận vuốt từng ống quần khi phơi phóng cho thẳng thớm.

Cứ như vậy, 7 năm qua trong ngôi nhà nhỏ ở phường An Bình (TP. Biên Hòa), đôi vợ chồng già ấy dịu dàng nương tựa vào nhau trong tuổi chiều dần xế bóng. Mà đúng hơn là bà nương tựa vào ông, bởi đã 4 năm rồi mỗi ngày bà càng chìm dần vào cõi vô thức. Ngay cả cái danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng được Nhà nước trao tặng hồi đầu năm 2015 (Quyết định số 2392/QĐ-CTN, ngày 26/9/2014) cũng chỉ đủ kéo bà về với thực tại trong phút chốc.

65 năm trước, ông Lâm khi đó là chính trị viên Trung đội 3 (Đại đội 2768, Trung đoàn 308) đã gặp gỡ cô Nguyễn Thị Kiêm công tác ở bộ phận quân nhu - tài chính Bộ Tư lệnh Nam Bộ, đóng tại Chiến khu Đ. Duyên trời chưa đến, ông với lý tưởng “đất nước còn bóng giặc thì chưa nghĩ đến chuyện riêng tư”, nên ngoài chuyện chiến đấu, chuyện công tác ông không để ý đến bất kỳ người phụ nữ nào. Với ông, bà Kiêm lúc ấy chỉ là đồng đội như bao đồng đội khác. Năm 1954,trong khi đơn vị tập kết ra Bắc thì ông âm thầm thực hiện nhiệm vụ cấp trên giao, “điều lắng” về tận xã Vĩnh Thịnh (nay thuộc huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu) trước khi trở về quê hương Long An để xây dựng cơ sở mật. Ngẫu nhiên, bà Kiêm cũng nhận nhiệm vụ ở lại, trở về xã Mỹ Đức Tây (huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang) để hoạt động. Tại đây, bà nên duyên vợ chồng với người đồng đội chung một chiến hào - ông Đỗ Văn Quỳnh, và có với nhau 3 mặt con: Đỗ Văn Tấn, Đỗ Văn Tới,Đỗ Văn Tho. Cho đến lúc ấy, ông Lâm - bà Kiêm vẫn còn là hai nhánh cuộc đời song song bên nhau, chưa có điểm gặp.

Trở về huyện Đức Hòa (tỉnh Long An) hoạt động, ông Lâm gặp không ít khó khăn. Bởi cả cái xã Tân Phú Thượng này ai không biết ông là con nhà “Cộng sản nòi”. Cha ông - Võ Văn Sàng - là người từng tham gia cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ năm 1940, đến năm 1945 lại cùng đồng bào xã Tân Phú Thượng tham gia cướp chính quyền từ tay bọn thực dân, phong kiến. 4/6 người con của ông Sàng đều tham gia kháng chiến chống Pháp, trong đó ông Lâm gia nhập Vệ quốc đoàn thuộc Chi đội 15. Chỉ một năm sau, ông Lâm được kết nạp Đảng khi vừa tròn 19 tuổi.

Vượt qua khó khăn, ông Lâm vẫn kiên trì thực hiện nhiệm vụ, gầy dựng lại từng cơ sở mật đã bị tan rã bởi sự bức hại của chính quyền Ngô Đình Diệm. Tình hình hoạt động ở quê nhà càng lúc càng nguy hiểm. Năm 1970, ông nhận nhiệm vụ đưa một số người có người thân đi tập kết hoặc tham gia kháng chiến nên bị địch o ép, đi tạm lánh. Điểm đến được chọn là Biên Hòa, vì đây là địa phương đang mở rộng phát triển công nghiệp tại Khu kỹ nghệ Biên Hòa (Khu công nghiệp Biên Hòa 1 hiện nay), cần tuyển công nhân và cũng là nơi tập trung đông người nhập cư từ các tỉnh khác. Ông Lâm trở thành công nhân nhà máy bao bì Sovi, và tại đây ông gặp lại bà Kiêm - mối lương duyên thiên định của mình.

Lúc bấy giờ, chồng bà Kiêm đã hy sinh vào năm 1963, còn bà chịu truy bức bởi quá trình tham gia kháng chiến chống Pháp cũng phải rời quê tha phương. Gặp lại nhau nơi xứ xa, là những người đồng cảnh ngộ, đồng chí hướng, ông bà cảm thấy ấm lòng hơn khi ở bên nhau. Hồi đó, nét mặn mòi của người phụ nữ 3 con ấy vẫn thu hút ánh nhìn cợt nhã của bọn lính tráng, nên chúng thường tìm cách sàm sỡ bà. Đắn đo suy nghĩ, bà Kiêm rụt rè nhờ ông Lâm “đóng vai” chồng để tránh sự quấy rối. Thương cảm, ông Lâm nhận lời. Ban ngày đi làm, ai chọc ghẹo, cợt nhã bà Kiêm đều chỉ tay về phía ông Lâm; “Chồng tui đó, mấy người đừng nói tầm bậy, ổng ghen chết”. Ban đêm, vẫn mạnh ai nấy ở trong khu nhà tập thể của nhà máy. Nhưng từ đó nhiều đêm ông Lâm thao thức không ngủ được. Ông nhớ đến nụ cười hiền hậu, nhớ dáng vẻ chịu thương chịu khó, nhớ cái tính lúc nào cũng hay giúp người khác của bà. Ông đoán bà cũng đang hoạt động cách mạng - như ông, nguy hiểm lúc nào cũng cận kề, rình rập cả hai nhưng chính vì vậy mà trong ông càng bùng lên mong muốn được chở che, bảo vệ cho bà hơn bao giờ hết.

Thu hết can đảm, ông ngỏ lời với bà. Trước đó, không ít người đã ngỏ ý với bà như vậy, nhưng bà không cảm nhận được cái tình ở họ nên tìm cách lẩn tránh. Giờ, có gì hạnh phúc bằng được yêu thương chân thật, được cảm thông và thấu hiểu. Bà về với ông, cũng một phòng trong khu tập thể nhà máy. Cuối năm 1970, cậu con trai của mối tình muộn ra đời trong niềm hạnh phúc của ông bà.

Với các con, ông Lâm không có sự phân biệt con chung, con riêng, tất cả đều gọi ông bằng ba. 15 tuổi, cậu con trai đầu Đỗ Văn Tấn thủ thỉ: “Ba ơi, tui thù Mỹ quá. Ngày nào cũng thấy tụi nó nhởn nhơ, tui chịu không nổi. Ba có cách nào cho tui đánh Mỹ không?”. Hiểu nỗi lòng của con, cũng không thể ngăn được chí khí tuổi trẻ, ông bàn bạc với bà rồi đưa con về huyện Cai Lậy, gởi cho các đồng chí trong vùng giải phóng. Tấn vào bộ đội Tiểu đoàn 261, một năm sau thì hy sinh trong trận đánh đồn Cái Bè năm 1972, đến nay vẫn chưa tìm được hài cốt. Bao nhiêu đêm bà lặng lẽ khóc con là bấy nhiêu đêm ông âm thầm vỗ về, an ủi, động viên bà vượt qua nỗi đau vì các con, vì nhiệm vụ còn ở phía trước.

Ngày 28/4/1975, trước khí thế tiến công như vũ bão của đoàn quân giải phóng đang tiến về Sài Gòn, ông Lâm nhận nhiệm vụ vận động công nhân bảo vệ máy móc, tài sản, không để bị đập phá hay tẩu tán. Nhà máy Sovi đã được bảo vệ nguyên vẹn cho đến ngày đất nước độc lập.

Sau năm 1975, đời sống rất khó khăn, ông vừa sản xuất trong nhà máy vừa tham gia công tác địa phương, vừa quần quật làm thêm để lo cho các con. Năm 1987, ông bà được Nhà nước bán hóa giá cho căn nhà ở khu phố 10 phường An Bình, chấm dứt cảnh hàng chục năm ở nhà trọ. Căn nhà nhỏ xíu, mái tôn thấp lè tè, nóng hừng hực trong những ngày hè từ đó trở thành mái ấm của ông bà và các con, cháu.

Vui chưa được bao lâu thì bà đổ bệnh. 2 lần mổ ruột, 2 lần té dập cột sống, 1 lần té chấn thương não, bà nằm bao lâu thì ông là hộ lý cho bà bấy lâu, hết nấu ăn, thay đổi món cho bà đỡ ngán, dỗ bà uống sữa lại xoay qua đổ bô, giặt giũ, vệ sinh cơ thể cho bà, chưa nệ hà điều gì. Có hôm đang làm việc, ông bị tăng huyết áp đột ngột, té trầy cả mặt, vậy mà vừa định thần lại ông đã lui cui đút bà ăn sáng vì sợ bà đói. 7 năm, tức hơn 2.500 ngày qua, lúc nào ông cũng là cái bóng bên bà, không hề rời xa cho đến khi bà qua đời vào ngày 14/3/2017...

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn