NGUYỄN THỊ KIM OANH– KÝ ỨC MỘT THỜI NGHỆ SĨ RA TRẬN
Nhạc sĩ Nguyễn Thị Kim Oanh, sinh năm 1952, quê tại Định Hòa, Yên Định, Thanh Hóa, nguyên là Phó Giám đốc Trung tâm Văn hóa – Thông tin thành phố Đà Nẵng, là một trong những gương mặt tiêu biểu của thế hệ nghệ sĩ trưởng thành trong khói lửa chiến tranh. Cuộc đời và sự nghiệp của bà gắn liền với tiếng hát phục vụ Tổ quốc, với những chuyến hành quân gian khổ và những sân khấu dựng tạm giữa núi rừng, nơi nghệ thuật hòa chung nhịp đập với chiến trường.
Tốt nghiệp Trung cấp Thanh nhạc – Đại học Văn hóa, Nguyễn Thị Kim Oanh sớm dấn thân vào con đường hoạt động nghệ thuật chuyên nghiệp. Trong quá trình công tác, bà đã tham gia tổ chức nhiều chương trình biểu diễn phục vụ nhân dân nhân các dịp kỷ niệm những ngày lễ lớn của thành phố Đà Nẵng và của cả nước. Không chỉ là người biểu diễn, bà còn dành nhiều tâm huyết cho công tác đào tạo, bồi dưỡng nhiều thế hệ học sinh thanh nhạc cho khu vực miền Trung và Tây Nguyên, mở các lớp biên đạo, dàn dựng chương trình ca múa nhạc, lớp bồi dưỡng nghiệp vụ cho hạt nhân phong trào cơ sở, đồng thời góp phần phổ biến các ca khúc của các nhạc sĩ Đà Nẵng đến đông đảo công chúng.
Năm 2012, với những cống hiến bền bỉ cho sự nghiệp văn hóa – nghệ thuật, bà được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ Ưu tú – sự ghi nhận xứng đáng cho một đời gắn bó với tiếng hát phục vụ nhân dân.
Nhưng với Nguyễn Thị Kim Oanh, ký ức sâu đậm nhất vẫn là những năm tháng tuổi trẻ khoác ba lô ra chiến trường. Bà bồi hồi nhớ lại, khi mới 18 tuổi, bà được gia nhập Đoàn Văn công miền Tây Quảng Nam, tiền thân của Đoàn Văn công Trung Trung Bộ. Chưa vào đoàn được bao lâu thì đến tháng 12 năm 1972, bà cùng đoàn hành quân vào chiến trường Khu 5 để phục vụ. Cô ca sĩ nhỏ nhắn, với cân nặng chỉ khoảng 40kg, bắt đầu làm quen với cuộc sống chiến tranh – nơi mà nghệ sĩ cũng là chiến sĩ.
Suốt ba tháng, vừa hành quân, vừa biểu diễn, bà và các đồng đội thấm thía những nhọc nhằn, gian truân của người nghệ sĩ thời chiến. Với họ, chuyện lội suối, vượt rừng là điều diễn ra hằng ngày. Bà không bao giờ quên lần đầu tiên vượt đường Trường Sơn, khi đơn vị dừng chân tại Hà Tĩnh, giao liên đưa đoàn đến một ngôi làng vừa bị địch bắn phá. Trước mắt họ là khung cảnh tiêu điều, xơ xác, không còn một bóng người, giữa buổi chiều đông ảm đạm. Trong giây phút ấy, bà và một số chị em trong đoàn đã bật khóc – những giọt nước mắt của nghệ sĩ trước nỗi đau của chiến tranh.
Có những lần, các cô phải lội qua lớp bùn cao đến đùi, lội xong không có nước rửa, đành mắc võng ngủ luôn trong bùn đất. Đáng sợ nhất là những lần bị lạc đường, bởi giao liên đi nhanh, các nghệ sĩ không quen địa hình, không theo kịp là chuyện thường xảy ra. Phương tiện di chuyển chủ yếu là đi bộ, thỉnh thoảng mới được đi xe. Trên vai mỗi người là toàn bộ quân trang, quân dụng, nhạc cụ, gạo và thức ăn dự trữ, có khi nặng hơn cả trọng lượng cơ thể. Gian khổ là thế, nhưng trong ký ức của họ, vẫn có những khoảnh khắc “nhìn lại thấy rất buồn cười”, như lời anh Nguyễn Thiện Tâm – diễn viên múa của đoàn, chồng bà sau này – kể lại với giọng hài hước.
Hành quân đã gian khổ, biểu diễn trong thời chiến còn gian khổ hơn. Nhiệm vụ của đoàn là biểu diễn phục vụ các đơn vị bộ đội chuẩn bị lên đường chiến đấu, phục vụ các đại hội, các đoàn đại biểu cấp cao. Có những lúc, vừa đặt ba lô xuống là phải biểu diễn ngay, không kịp nghỉ ngơi. Nhiều anh chị em bị sốt rét rừng, nhưng đến lượt diễn vẫn cố gắng ra sân khấu, đánh xong phần việc của mình lại vào võng nghỉ tạm sau cánh gà, rồi tiếp tục biểu diễn khi cần. Những diễn viên múa như anh Thiện Tâm còn phải lăn lê bò toài, lấm bùn đất, bị cây đâm đau điếng, nhưng không một ai than phiền.
Hơn một phần ba thế kỷ đã trôi qua, nhưng nhạc sĩ Nguyễn Thị Kim Oanh – giọng ca nổi tiếng một thời của Đoàn Văn công Trung Trung Bộ – vẫn giữ gần như nguyên vẹn những kỷ vật chiến tranh. Với bà, kỷ vật đã nói thay tấm lòng, là chứng nhân cho một thời tuổi trẻ không thể nào quên. Bà, chồng bà – anh Nguyễn Thiện Tâm – cùng 67 thành viên của đoàn vào chiến trường Khu 5 khi tuổi đời còn rất trẻ; người lớn tuổi nhất cũng chỉ mới 22 tuổi. Vậy mà họ đã ngày đi, đêm diễn, bền bỉ cho đến tận chiến trường.
Giờ đây, khi nhìn lại, cả hai đều khẳng định: những tháng ngày ấy gian khổ thật, nhưng cũng đẹp vô cùng. Các anh chị em trong đoàn thương yêu nhau như anh em ruột thịt. Xen giữa những giây phút nín thở vượt qua đồn địch trong đêm lạnh, những khoảnh khắc mong manh giữa sự sống và cái chết, vẫn có những phút giây thanh bình, yên ả: cùng nhau đi kiếm rau rừng, quây quần bên bếp lửa ấm áp tình đồng đội.
Sau ngày đất nước thống nhất, tháng 5 năm 1975, các thành viên của đoàn chia tay nhau trong niềm lưu luyến khôn nguôi. Mỗi người một ngả rẽ: có người ở lại với núi rừng Quảng Nam, có người trở về thành phố, có người tiếp tục gắn bó với nghệ thuật như vợ chồng anh Tâm – chị Oanh, cũng có người chuyển sang những nghề nghiệp khác. Nhưng dù ở đâu, làm gì, họ vẫn mang trong mình chất nghệ sĩ, như một mạch ngầm chảy mãi trong tiềm thức. Và với họ, Quảng Nam – Đà Nẵng đã trở thành quê hương thứ hai, gắn bó tự nhiên như máu thịt từ bao giờ.



