Bài viết

Nguyễn Thị Lựu

Đồng Tháp20/05/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Bà Nguyễn Thị Lựu, tên thật Đỗ Thị Thường, bí danh Thu, Cửu, thường gọi Tám Lựu, sinh ngày 23/9/1909 tại làng Hòa An, quận Cao Lành, tỉnh Sa Đéc (nay là thành phô Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp).

Là người con gái hiều hạnh, dũng cảm, mưu trí, bà sôm được giác ngộ cách mạng, thoát ly gia đình, đứng vào hàng ngũ Thanh niên Việt Nam Cách mạng (1928). Qua thành tích hoạt động xuất sắc, bà được kết nạp vào An Nam Cộng sản Đảng cuối năm 1929 tại Phong Hoà,

Cân Thơ (nay là xã Phong Hoà, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp).

Đầu năm 1931, trên cương vị Thường vụ Tổng Công hội đỏ Xứ uý Nam Kỳ, bà bị giặc bắt giam ở bót Pôlô (Chợ Lôn). Trước những trận đòn khoc liệt, man rợ, bà vẫn không chao đảo tinh thần, giữ vững khí tiết người Cộng sản. Đồng chí Nguyễn Văn Hanh, bí danh Nhuận, người yêu của bà, cũng bị bắt giam tại bót Pôlô cùng thời điểm với bà. Toà đại hình đặc biệt Sài Gònmờ phiên xử kéo dài 7 ngày (từ ngày o2 đên ngày o9/5/1933), tuyên án bà 5 năm tù giam tại Khám Lớn Sài Gòn, đồng chí Nhuận từ hình, hạ xuông chung thân khổ sai, đày đi Côn Đảo.

Năm 1936, bà được trả tự do, mới biết tin người yêu đa hy sinh trong chuyên vượt ngục Côn Đáo cuồi năm 1934, cùng với 10 đồng chí. trong đó có Ngô Gia Tự (1908 - 1934). Bí thư đầu tiên của Xứ uý Nam Kỳ.

Trở lại hoạt động, bà tham gia nhóm La Lutte (Tranh đâu), phục vụ tại toà soạn La Lutte và được bầu vào Uý ban trù bị Đông Dương Đại hội. Đầu năm 1937, bà tiếp tục làm báo L'Avant-Garde (1937), Le Peuple (1937), Dân chúng (1938

- 1939).

Đầu tháng 9/1939, bà bị thực dân Pháp bất lần thứ 2, giam ở nhà tù Phú Mỹ (Thị Nghè - Gia Định) từ 1939 - 1941 và trại giam Bà Rá (Biên Hòa) từ 1941 - 1945-

Nhật đảo chính Pháp, ngày 09/3/1945, bà cùng một số đồng chí ở trại tù Bà Rá vượt ngục

về Sài Gòn, tham gia hoạt động, vận động quần chúng ủng hộ Mặt trận Việt Minh lãnh đạo thắng lợi Tổng khởi nghĩa 25/8/1945-Năm 1946, bà công tác ở Tình uỳ Châu Đốc, tham gia Ban Dân vận thị xã Châu Đốc, gây dựng, phát triển tờ bảo "Anh Thư" của Hội Phụ nữ Cửu quốc tỉnh Châu Đốc. Sau đó, bà giữ các nhiệm vụ: Trưởng ban Phụ vận Thành uý Sài Gòn - Chợ Lớn (1949), tham gia phong trào bảo vệ hoà bình Sải Gòn - Chợ Lớn, phụ trách Tiểu ban đầu tranh đòi thi hành Hiệp định Genève

(1954). Uý viên Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Uý viên Uý ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (1959). Vụ trưởng Vụ quốc tê của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (196o), Phó Tổng Thư ký Uý ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (1961), Đại biếu Quốc hội các khóa IV, V, VI.

Sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thông nhật đât nước 30/4/1975, bà đảm nhận chức vụ Chủ nhiệm Uý ban thông nhật của Quốc hội, Uý viên Đoàn Chủ tịch Uý ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và nghi hưu vào tháng 7/1979.

Bà từ trần ngày 11/10/1988, hưởng thọ 79 tuổi. Cuộc đời và sự nghiệp của bà rạng rỡ đôi đàng về cách mạng, về tình yêu, thủy chung. kiên cường, bất khuất.

Tên bà được đặt cho trường trung học cơ sở ở phường 4 và một con đường trong thành phô Cao Lành, tỉnh Đồng Tháp.

O

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn