Nguyễn Thị Lựu – Người phụ nữ tiêu biểu của phong trào cách mạng
Nguyễn Thị Lựu (1909–1988) là nữ chiến sĩ cách mạng tiêu biểu của Đồng Tháp. Bà sớm tham gia phong trào cách mạng, nhiều lần bị thực dân Pháp bắt giam nhưng vẫn kiên trung đấu tranh. Sau năm 1945, bà tiếp tục hoạt động trong các tổ chức phụ nữ và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, có nhiều đóng góp cho cách mạng và đất nước.
Nguyễn Thị Lựu
(1909 – 1988)
Bà Nguyễn Thị Lựu, tên thật là Đỗ Thị Thương, bí danh Thu, Cúc, thường gọi Tám Lựu, sinh ngày 23/9/1909 tại làng Hòa An, quận Cao Lãnh, tỉnh Sa Đéc (nay là thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp).
Là người con gái hiếu hạnh, dũng cảm, mưu trí, bà sớm được giác ngộ cách mạng, thoát ly gia đình, đứng vào hàng ngũ Thanh niên Việt Nam Cách mạng đồng chí Hội năm 1928. Qua thanh tích hoạt động xuất sắc, bà được kết nạp vào An Nam Cộng sản Đảng cuối năm 1929 tại Phong Hòa, Cần Thơ (nay là phường Hòa, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp).
Đầu năm 1931, trên cương vị Thường vụ Tổng Công hội đỏ Xứ ủy Nam Kỳ, bà bị giặc bắt giam ở bót Pôlô (Chợ Lớn). Trước những trận đòn khốc liệt, man rợ, bà vẫn không khai báo tổ chức, giữ vững khí tiết người cộng sản. Đồng chí Nguyễn Văn Hành, bí danh Nhuận, người yêu của bà, cũng bị bắt giam tại bót Pôlô cùng thời điểm với bà. Tòa án đại hình đặc biệt Sài Gòn mở phiên xử kéo dài 7 ngày (từ ngày 02 đến ngày 09/5/1933), tuyên án bà 5 năm tù giam tại Khám Lớn Sài Gòn, đồng chí Nhuận 6 năm tù, rồi chuyển xuống nhà đày Côn Đảo.
Năm 1936, bà được trả tự do, mới biết tin người yêu đã hy sinh trong chuyến vượt ngục Côn Đảo cuối năm 1934, cùng với 6 đồng chí, trong đó có Ngô Gia Tự (1908 – 1934), Bí thư đầu tiên của Xứ ủy Nam Kỳ.
Trở lại hoạt động, bà tham gia nhóm La Lutte (Tranh đấu), phục vụ tại tòa soạn La Lutte và được bầu vào Ban trị sự báo Dân chúng Đại hội. Đầu năm 1937, bà tiếp tục làm báo L’Avant-Garde (1937), Le Peuple (1937), Dân chúng (1938 – 1939).
Đầu tháng 9/1939, bà bị thực dân Pháp bắt lần thứ hai, giam ở nhà tù Phú Mỹ (Mỹ Nghĩa – Gia Định) từ 1939 – 1941 và trại giam Bà Rá (Biên Hòa) từ 1941 – 1945.
Nhật đảo chính Pháp, ngày 09/3/1945, bà cùng một số đồng chí ở trại tù Bà Rá vượt ngục về Sài Gòn, tham gia hoạt động, vận động quần chúng ủng hộ Mặt trận Việt Minh lãnh đạo thắng lợi Tổng khởi nghĩa tháng 8/1945.
Năm 1946, bà công tác ở Tỉnh ủy Châu Đốc, tham gia Ban Dân vận thị xã Châu Đốc, gây dựng, phát triển tổ chức Ái hữu Phụ nữ Cứu quốc tỉnh Châu Đốc. Sau đó, bà giữ các nhiệm vụ: Trưởng ban Phụ vận Thành ủy Sài Gòn – Chợ Lớn (1949), tham gia phong trào báo chí, hoạt động tại Sài Gòn – Chợ Lớn, phụ trách báo Phụ nữ, báo Dân chúng.
Năm 1954, bà được bầu làm Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước 30/4/1975, bà đảm nhận chức vụ Chủ nhiệm Ủy ban thống nhất của Quốc hội, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và nghỉ hưu vào tháng 7/1979.
Bà từ trần ngày 11/10/1988, hưởng thọ 79 tuổi. Cuộc đời và sự nghiệp của bà là tấm gương về lòng yêu nước, kiên trung, bất khuất.
Tên bà được đặt cho trường học, các công trình phúc lợi và một con đường tại thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

