Mẹ Việt Nam Anh hùng

Nguyễn Thị Mao (1924-)

Đồng Nai01/10/2026Đoàn xã Tân An Hội (Xã Tân An Hội)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Má Nguyễn Thị Mao được Nhà nước trao tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng theo Quyết định số 394/KTCTN ngày 17/12/1994 vì có ba người con tham gia cách mạng, cả ba đều hy sinh, trong đó, 2 người được công nhận liệt sĩ. Người con trai đầu của má là Phạm Văn Linh, sinh năm 1945, thoát ly tham gia cách mạng năm 1962 (mới có 17 tuổi), ở bộ đội địa phương đoàn 64, quận Dầu Tiếng, sau chuyển qua tiểu đoàn Phú Lợi, tỉnh Bình Dương. Anh tham gia đánh trận Suối Dưa bị sức ép của đạn pháo nổ gần, đơn vị đưa lên bệnh xá, anh xin về dưỡng bệnh ở nhà. Trên đường từ nhà trở lại đơn vị, anh bị pháo địch bắn chết, năm đó anh mới 21 tuổi, để lại người vợ trẻ cùng tuổi và 2 con thơ dại. Trường hợp hy sinh của anh Linh chưa đủ thủ tục xác minh để công nhận liệt sĩ. Người con trai thứ hai của má, anh Phạm Văn Nên sinh năm 1947, tham gia cách mạng tháng 1/1964. Anh được tổ chức cho đi học y tá, về làm y tá xã Thanh An (Bến Cát, Sông Bé). Ngày 10/11/1968, tại ấp 5 xã Thanh An, Bến Cát (Sông Bé) trong khi đi làm nhiệm vụ sưu tầm trái lép về làm vũ khí đánh địch, chẳng may trái bị nổ, anh hy sinh. Người con gái út, chị Phạm Thị Mý (tức Hà) sinh năm 1949, tham gia cách mạng tháng 9/1967, là cán bộ y tế của nông hội phân khu I. Chị hy sinh ngày 2/9/1973, tại xã Đơn Thuận, huyện Trảng Bàng, Tây Ninh, trên đường đi công tácbị vướng trái của địch. Từ ngày đó, vợ chồng má Mao không còn những đứa con thân yêu an ủi, đỡ đần cho tuổi xề chiều của mình. Má kể: “Thằng Ba (anh Nên) và con Tư (chị Hà) rất sáng dạ. Học y tá, hai đứa đều đổ đầu của lớp. Lần tôi tới thăm con Hà ở Bùng Tranh, nó được chuẩn bị đi học y sĩ. Ai ngờ, đấy là lần cuối cùng tôi gặp nó. Tính thằng Ba nó hiền lắm, về đến nhà là tụi con nít vây lấy, đứa “ cậu Ba”, đứa “chú Ba”, “anh Ba”. Con Tư người đậm trắng, tóc dài. Nó hay mặc cái áo màu xanh dương và màu đen. Mười tám tuổi, nó hổng chịu lấy chồng. Nó về nói với tôi: “Má! Con xin đi tòng quân”. Tôi nói: “Cái chuyện này, má không ép con. Nhưng con phải xác định đi làm cách mạng là phải chịu đựng gian khổ: bom đạn, đói rét, thiếu thốn chứ không như ở trong gia đình. Con nghĩ cho kỹ. Chịu đựng được thì đi.” Nó nói: “Con quyết rồi má ạ!”. Thế rồi nó đi. Sau này về nó kể với tôi lần đơn vị bị vây phải ăn đọt mì, đọt chùm bao cả tuần lễ. Đận ấy gay go lắm, kẹt trận càn tam giác sắt của giặc, cánh của Tư Đạt mấy chục người chết hết, lớp bị bom pháo, lớp bị xe tăng chúng ủi sập hầm, còn một mình Tư Đạt phải tung hầm lên chiến đấu, kiệt sức, đói lả, té lên, té xuống, khi gặp được du kích, đổ từng muỗng nước cháo mới được cứu sống”. Sau ngày hai thằng anh nó hy sinh, tôi bảo nó: “Hai anh con không còn, ba má cô đơn quá. Hay là con xin về ở với ba má”. Con Tư nói: “Con không đi thì thôi, con đi là phải đi đến cùng. Má về nói với ba dùm con”. “Tôi thấy mình cũng không thể làm khác được. Buồn đau mà phải dằn lòng để con ra đi cho tròn nghĩa với Tổ quốc”. Quê gốc má ở xã Phú Mỹ Hưng, huyện Củ Chi, thànhphố Hồ Chí Minh. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, ông Phạm Văn Nọ (chồng má tham gia du kích địa phương, má tham gia công tác phụ nữ là tổ trưởng phụ nữ ấp, vận động và cùng với bà con, chị em tiếp tế lương thực, thực phẩm, thuốc men cho bộ đội, cán bộ, du kích. Từ năm 1957, má chuyển về sinh sống ở xã Thanh An (Bến Cát, Sông Bé) tiếp tục nuôi giấu cán bộ cách mạng trong nhà. Đồng chí Lê Văn Tân - ván bộ nằm vùng (sau này hy sinh ở Lái Thiêu năm 1965, ở nhà má cả 4,5 tháng trời). Má còn đảm nhận cả việc giao thông liên lạc, chuyển tài liệu, cung cấp tin tức cho tổ chức qua hòm thư chết. Năm 1960, má tham gia công tác phụ nữ xã, là ủy viên ban chấp hành phụ nữ xã, trưởng ban cán sự phụ nữ ấp. Năm 1964, má tham gia trong thành phần Mặt trận dân tộc giải phóng của xã. Những năm ấy, ban ngày má đi cạo mủ cao su, đêm về đi làm công tác cách mạng. Trong những đóng góp xuất sắc của phụ nữ Thanh An cho cách mạng có phần đóng góp tích cực của má. Má kể những năm ấy, địch o ép đủ bề. Sợ mình mang cơm gạo tiếp tế cho cách mạng, nó gom tất cả lên bót, rồi đến bữa xúc cho mỗi nhà mang về nấu. Bữa nào, má cũng sớt lại một ít gạo trong hũ, dồn lại để lâu lâu anh em mình về lấy mang đi. Má vận động bà con cũng làm như mình, dành phần gạo cho cách mạng. Những cuộc đấu tranh chính trị của đội quân tóc dài ở Thanh An những năm ấy có vai trò tích cực trong vận động tổ chức của má. Cả những công việc tế nhị và hóc búa như động viên, an ủi những gia đình có thân nhân tham gia cách mạng hy sinh, cũng cần đến má. Má kể ngày đó ở Thanh An có gia đình có con em hy sinh, vì quá thương con nên nói năng những câu không gìn giữ. Anh em ai cũng ngại giáp mặt với gia đình. Má và mộtđồng chí nữa quyết định cứ đến, chịu trận, giải thích, sau gia đình cũng nguôi ngoai. Sau ngày hai người con trai của má hy sinh, má rất lo lắng cho cô con gái út (chị Hà), nhưng phải tự động viên mình chịu đựng, mình không làm gương, khi mình đi vận động, ai nghe. Má bị lộ do đứng ra phát biểu trong một cuộc họp với dân, có kẻ chỉ điểm. Giặc đi lùng bắt má, chúng khám nhà ở khu bên cạnh hỏi tên má. Bà con chạy đến báo cho má hay, má phải lánh đi. Sau đó, chi bộ xã đồng ý cho má dời về Trảng Bom. Hồi mới giải phóng, má có tham gia công tác phụ nữ ở xã Trảng Bom ba năm (1975-1978), sau đó, do tuổi già sức yếu, má xin nghỉ.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn