Nguyễn Thị Minh Khai - Biểu tượng Anh hùng của người phụ nữ Việt Nam

Đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai là một trong những nữ chiến sĩ cách mạng tiền bối tiêu biểu nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam, người con ưu tú của quê hương Hà Tĩnh. Cả cuộc đời bà là tấm gương sáng ngời về lòng trung thành vô hạn với cách mạng, tinh thần kiên trung, bất khuất trước kẻ thù và ý chí kiên cường của người phụ nữ Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.
Nguyễn Thị Minh Khai sinh ngày 30 tháng 9 năm 1910 tại xã Lê Lợi, thị xã Hồng Lĩnh (nay thuộc thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An), trong một gia đình tiểu tư sản có truyền thống yêu nước. Tên khai sinh của bà là Nguyễn Thị Vịnh. Sinh ra và lớn lên trong cảnh nước mất nhà tan, chứng kiến cảnh áp bức của thực dân phong kiến, bà sớm tiếp thu tư tưởng cách mạng. Năm 1927, khi mới 17 tuổi, bà tham gia tổ chức Tân Việt Cách mạng Đảng tại Vinh, rồi gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng lập. Bà là một trong những người phụ nữ đầu tiên tham gia phong trào cách mạng ở xứ Nghệ. Năm 1930, để tránh sự lùng sục của mật thám Pháp, bà rời quê hương sang Quảng Châu (Trung Quốc) làm việc tại cơ quan Tổng hành dinh của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, đồng thời làm thư ký và giao liên cho đồng chí Nguyễn Ái Quốc (khi đó mang tên Bí thư Vương). Năm 1934-1935, với tư cách là đại biểu của Đảng Cộng sản Đông Dương, Nguyễn Thị Minh Khai cùng Lê Hồng Phong và Hoàng Văn Nọn đã vượt ngàn dặm đường hiểm trở sang Liên Xô tham dự Đại hội lần thứ VII Quốc tế Cộng sản tại Mát-xcơ-va. Tại đây, bài tham luận sắc sảo của bà về phong trào phụ nữ Đông Dương đã gây ấn tượng sâu sắc đối với bạn bè quốc tế. Cũng trong thời gian này, bà kết hôn với nhà lãnh đạo Lê Hồng Phong.
Năm 1937, bà trở về nước, hoạt động bí mật tại Sài Gòn - Chợ Lớn. Với uy tín và năng lực xuất sắc, bà được bầu vào Xứ ủy Nam Kỳ, trực tiếp phụ trách công tác tuyên huấn, làm Bí thư Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn. Dưới sự chỉ đạo của Xứ ủy Nam Kỳ và trực tiếp là Nguyễn Thị Minh Khai, phong trào đấu tranh của công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân miền Nam dâng cao mạnh mẽ. Bà là một trong những linh hồn chuẩn bị cho cuộc Nam Kỳ Khởi nghĩa (tháng 11 năm 1940) nhằm lật đổ ách thống trị của thực dân Pháp.
Do sự đàn áp khốc liệt và sự phản bội của kẻ chỉ điểm, tháng 7 năm 1940, Nguyễn Thị Minh Khai bị thực dân Pháp bắt giam tại Sài Gòn. Dù bị tra tấn vô cùng dã man, chịu đựng những cực hình tàn khốc nhất của chế độ thực dân, bà vẫn giữ vững khí tiết của người cộng sản kiên trung, bảo vệ cơ sở Đảng và đồng đội, biến nhà tù đế quốc thành trường học cách mạng. Thực dân Pháp bất lực trước ý chí sắt đá của bà nên đã tuyên án tử hình bà cùng nhiều đồng chí khác như Hà Huy Tập, Võ Văn Tần, Nguyễn Văn Cừ...
Ngày 28 tháng 8 năm 1941, thực dân Pháp đưa Nguyễn Thị Minh Khai cùng các đồng chí lãnh đạo ra xử bắn tại ngã ba Giồng (Hóc Môn, Gia Định). Trước lúc hy sinh, khi bị địch bịt mắt, bà đã dõng dạc cất cao tiếng hát Quốc tế ca và hiên ngang nhìn thẳng vào khẩu súng của kẻ thù. Bà hy sinh khi mới 31 tuổi, đang ở độ tuổi thanh xuân đẹp nhất và đầy nhiệt huyết của cuộc đời.Sự hy sinh oanh liệt của đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai là bản hùng ca bi tráng về lòng yêu nước, tinh thần hy sinh quên mình vì lý tưởng cộng sản.Hình ảnh người nữ Bí thư Thành ủy kiên cường, bất khuất trước pháp trường mãi mãi là niềm tự hào của phụ nữ Việt Nam và của toàn Đảng, toàn dân ta.
Tên tuổi của bà được vinh dự đặt cho nhiều con đường lớn, trường học, bảo tàng phụ nữ và các giải thưởng khoa học, văn hóa trên khắp mọi miền đất nước (như Đường Nguyễn Thị Minh Khai tại TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội...). Cuộc đời và sự nghiệp của bà tiếp tục là ngọn lửa thiêng soi sáng cho các thế hệ mai sau trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.


