Nguyễn Thị Minh Khai - biểu tượng sáng ngời về bản lĩnh, trí tuệ và khí tiết kiên trung của người nữ đảng viên cộng sản
Trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc của cách mạng Việt Nam, đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai nổi lên như một biểu tượng sáng ngời về bản lĩnh, trí tuệ và khí tiết kiên trung của người nữ đảng viên cộng sản. Là nữ Bí thư Thành ủy đầu tiên của Sài Gòn – Chợ Lớn, đồng chí đã cống hiến trọn vẹn tuổi thanh xuân và cuộc đời mình cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.

I. Xuất thân, gia đình và những bước khởi đầu tại quê hương Nghệ An (1910 – 1926)
Đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai tên thật là Nguyễn Thị Vịnh, sinh ngày 01 tháng 11 năm 1910 (có tài liệu ghi ngày 30 tháng 9 năm 1910, tức ngày 30 tháng 9 năm Canh Huyết âm lịch) tại xã Vĩnh Yên, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.
Xuất thân gia đình:
Cha của bà là ông Nguyễn Huy Bình (thường gọi là Hàn Bình), nguyên quán tại làng Mọc (nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội). Ông vào Vinh làm công chức hỏa xa.
Mẹ của bà là bà Đậu Thị Thư, quê ở xã Đức Tùng (nay là xã Tùng Châu), huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, làm nghề buôn bán nhỏ.
Gia đình bà từng sống tại căn nhà số 132 phố Maréchal Foch (nay là đường Quang Trung, thành phố Vinh) trước khi chuyển về sống ở quê mẹ tại Hà Tĩnh.
Nguyễn Thị Minh Khai sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống yêu nước và có nhiều người con thành danh: em gái của bà là Nguyễn Thị Quang Thái – nhà hoạt động cách mạng xuất sắc, người vợ đầu tiên của Đại tướng Võ Nguyên Giáp; em trai là Giáo sư, Bác sĩ Nguyễn Huy Dung – nguyên Phó Giám đốc Bệnh viện Chợ Rẫy.
Quá trình học tập và giác ngộ lý tưởng:
Năm 1919, lúc mới 9 tuổi, Nguyễn Thị Minh Khai bắt đầu học chữ Quốc ngữ tại trường nữ sinh thành phố Vinh. Nhờ học giỏi, bà được chuyển sang học lớp nhất tại Trường Tiểu học Cao Xuân Dục ở Vinh.
Thời kỳ này, phong trào yêu nước ở Nghệ - Tĩnh dâng cao mạnh mẽ, đặc biệt sau sự kiện tiếng bom của liệt sĩ Phạm Hồng Thái mưu sát Toàn quyền Merlin tại Quảng Châu (1924). Được sự chỉ bảo, hướng dẫn của các thầy giáo tiến bộ, chị Minh Khai sớm tham gia các phong trào đấu tranh của thanh niên, học sinh.
Chị đã tích cực vận động các bạn nữ sinh quyên góp tiền mua vải may băng tang đi dự lễ truy điệu nhà yêu nước Phan Châu Trinh, đồng thời hăng hái tham gia ký tên vào bản yêu sách đòi chính quyền thực dân Pháp trả tự do cho cụ Phan Bội Châu.
Sau khi tốt nghiệp tiểu học, chị ở nhà phụ giúp mẹ bán hàng, ghi chép sổ sách gia đình, đồng thời âm thầm tham gia các hoạt động yêu nước tại địa phương.
II. Dấn thân vào con đường cách mạng: Từ Đảng Tân Việt đến Đảng Cộng sản Đông Dương (1927 – 1930)
Gia nhập Hội Hưng Nam (Tân Việt Cách mệnh Đảng):
Mùa hè năm 1927, khi mới 17 tuổi, Nguyễn Thị Minh Khai trở thành người phụ nữ đầu tiên ở khu vực Vinh – Bến Thủy được kết nạp vào Hội Hưng Nam (sau đổi tên thành Tân Việt Cách mệnh Đảng).
Với tinh thần nhiệt huyết và năng lực tổ chức, chị được bầu vào Ban Chấp hành đại tổ (cấp thành bộ) của Hội Hưng Nam, trực tiếp phụ trách công tác vận động phụ nữ.
Thoát ly hoạt động bí mật và gia nhập Đảng Cộng sản:
Năm 1929, chị quyết định thoát ly gia đình để dấn thân hoàn toàn vào con đường hoạt động cách mạng bí mật.
Năm 1930, khi Đảng Cộng sản Việt Nam (sau đổi thành Đảng Cộng sản Đông Dương) ra đời, đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai trở thành một trong những đảng viên đầu tiên. Đồng chí được phân công phụ trách công tác tuyên truyền, huấn luyện đảng viên tại vùng công nghiệp Trường Thi, Bến Thủy và các làng phụ cận.
Đồng chí đã trực tiếp thâm nhập vào đời sống công nhân nhà máy, cùng ăn, cùng ở, cùng lao động để xây dựng cơ sở Đảng, từ đó thúc đẩy phong trào công nhân đấu tranh phát triển mạnh mẽ.
III. Hoạt động quốc tế và dấu ấn tại Đại hội VII Quốc tế Cộng sản (1930 – 1936)
Công tác tại Văn phòng Phương Nam của Quốc tế Cộng sản (Hương Cảng):
Mùa hè năm 1930, đồng chí được điều động ra Hải Phòng, sau đó được Đảng cử sang Hương Cảng (Trung Quốc) làm việc tại Văn phòng Phương Nam thuộc Bộ Phương Đông của Quốc tế Cộng sản.
Tại đây, đồng chí được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trực tiếp huấn luyện về lý luận cách mạng vô sản. Đồng chí đảm nhận nhiệm vụ làm liên lạc giữa Thị ủy Hương Cảng của Đảng Cộng sản Trung Quốc với các tổ chức cách mạng Việt Nam.
Trong môi trường bị mật thám Pháp và cảnh sát Anh bủa giăng dày đặc, đồng chí đã sử dụng nhiều bí danh hoạt động như Cô Duy, Trần Thái Lan, Lý Huệ Phương... để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
Thử thách ngục tù và sự can thiệp của Quốc tế Đỏ:
Năm 1931, đồng chí bị chính quyền thực dân Anh kết hợp với mật thám Pháp bắt giam tại Hương Cảng/Quảng Châu.
Mặc dù bị tra tấn, đánh đập dã man trong chốn lao tù, người nữ chiến sĩ trẻ tuổi vẫn giữ vững khí tiết, không khai báo bất kỳ thông tin nào của tổ chức.
Đến năm 1933, nhờ sự đấu tranh can thiệp quyết liệt của Quốc tế Đỏ (Hội Cứu tế Đỏ Quốc tế), đồng chí được trả tự do.
Hoạt động tại Thượng Hải và tham dự Đại hội VII Quốc tế Cộng sản (1934 – 1935):
Sau khi ra tù năm 1934, đồng chí lấy tên là Thị Vai, tìm đến Thượng Hải bắt liên lạc với đồng chí Lê Hồng Phong và Ban Lãnh đạo ở ngoài nước của Đảng Cộng sản Đông Dương.
Đầu năm 1935, đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai cùng đồng chí Lê Hồng Phong được cử làm đại biểu chính thức đi dự Đại hội lần thứ VII Quốc tế Cộng sản tại Moskva (Liên Xô).
Tại đại hội, với bí danh Phan Lan, đồng chí đã dõng dạc đọc bản tham luận lên án chính sách bóc lột, xâm lược dã man của thực dân Pháp tại Đông Dương, đồng thời biểu dương tinh thần đấu tranh kiên cường của phụ nữ Việt Nam và phụ nữ Đông Dương.
Sau đại hội, đồng chí ở lại Moskva học tập tại Trường Đại học Cộng sản Phương Đông. Cũng trong thời gian này, đồng chí đã thành hôn với đồng chí Lê Hồng Phong, khởi đầu cho cuộc tình cách mạng thủy chung và vô cùng oanh liệt.
IV. Trở về nước, giữ trọng trách Bí thư Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn (1936 – 1940)
Trở về lãnh đạo phong trào cách mạng:
Đầu năm 1937 (một số tài liệu ghi cuối năm 1936), vượt qua hệ thống kiểm soát mật thám dày đặc, đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai trở về Sài Gòn để truyền đạt các chỉ thị của Quốc tế Cộng sản và làm việc tại cơ quan Xứ ủy Nam Kỳ với bí danh Năm Bắc.
Đồng chí tích cực viết nhiều bài đăng trên báo Dân chúng – cơ quan ngôn luận của Đảng thời kỳ Mặt trận Dân chủ, kêu gọi phụ nữ Việt Nam hăng hái tham gia phong trào đấu tranh đòi tự do, dân chủ, dân sinh, chống bóc lột.
Nữ Bí thư Thành ủy Sài Gòn – Chợ Lớn:
Khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ (1939), thực dân Pháp khủng bố khốc liệt phong trào cách mạng. Đảng chủ trương chuyển hướng chỉ đạo, rút vào hoạt động bí mật. Đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai được Xứ ủy Nam Kỳ chỉ định làm Bí thư Thành ủy Sài Gòn – Chợ Lớn.
Trong điều kiện cực kỳ hiểm nguy, đồng chí liên tục bám sát các cơ sở cách mạng quan trọng: bí mật trực tiếp vào xưởng đóng tàu Ba Son, Công ty Hỏa xa Sài Gòn, xuống các vùng nông thôn Hóc Môn, Gia Định... để kiểm tra và chỉ đạo phong trào đấu tranh của công nhân và phụ nữ.
Tình yêu cách mạng và sự hy sinh tình cảm cá nhân:
Thời gian này, đồng chí Lê Hồng Phong cũng về Sài Gòn hoạt động bí mật nhưng đến ngày 29 tháng 9 năm 1939 thì bị giặc Pháp bắt.
Mùa xuân năm 1940, đồng chí Minh Khai sinh con gái đầu lòng tên là Lê Nguyễn Hồng Minh. Nhưng chỉ vài ngày sau khi sinh, vì nhiệm vụ cách mạng cấp bách khi phong trào khởi nghĩa dâng cao, người mẹ trẻ đã đành gạt nước mắt gửi con nhờ cơ sở nuôi dưỡng để tiếp tục dấn thân vào cuộc đấu tranh.
V. Sa vào tay giặc, khí tiết kiên trung trong ngục tối và sự hy sinh oanh liệt (1940 – 1941)
Bị bắt và sự kiên trung ở bót Catinat, Khám Lớn Sài Gòn:
Ngày 30 tháng 7 năm 1940, sau phiên họp của Xứ ủy Nam Kỳ bàn về kế hoạch Khởi nghĩa Nam Kỳ, cơ sở bị lộ, đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai bị thực dân Pháp bắt tại Sài Gòn cùng với đồng chí Nguyễn Hữu Tiến (tác giả lá cờ đỏ sao vàng).
Địch đưa đồng chí về giam tại bót Catinat – "địa ngục trần gian" khét tiếng. Tại đây, chúng đưa đồng chí Lê Hồng Phong đến nhận mặt hòng có thêm chứng cứ kết án tử hình cả hai người. Nhưng trước mặt kẻ thù, hai nhà cách mạng kiên cường đã dũng cảm không nhận bất kỳ điều gì, kể cả mối quan hệ vợ chồng.
Không khuất phục được, giặc Pháp chuyển đồng chí sang giam tại Khám Lớn Sài Gòn. Trong lao tù, đồng chí vẫn tìm cách liên lạc ra bên ngoài để chỉ đạo phong trào, đồng thời biến phòng giam thành lớp học chính trị và văn hóa cho các bạn tù.
Bài thơ khắc trên tường bót Catinat: Trong những ngày bị giam cầm và tra tấn dã man, đồng chí đã dùng máu khắc lên tường bót Catinat bài thơ thể hiện chí khí sắt đá:
"Vững chí bền gan ai hỡi ai
Kiên tâm giữ dạ mới anh tài
Thời cuộc đẩy đưa người chiến sĩ
Con đường cách mạng lắm chông gai"
Bức thư gửi cha mẹ khẳng định sự trong sạch: Ngày 29 tháng 5 năm 1941, từ ngục tối, đồng chí viết bức thư gửi về cho cha mẹ với những lời xúc động:
"Con xin thày đẻ đừng tủi nhục đau khổ rằng con bị kết án xử tử là phạm điều gì sát nhân, tội ác, xấu xa, dữ tợn như bọn chúng nói. Không, con không phải vậy đâu! Con không phải là đứa con bất hiếu. Con khi nào cũng là đứa con trong sạch, chính đáng, không bao giờ làm điều gì bất nhân hung dữ. Con đầy một tấm lòng nhân ái, minh chính".
Bản án tử hình và cuộc hy sinh bất tử:
Sau nhiều lần đưa ra tòa án xét xử và nâng án, ngày 25 tháng 3 năm 1941 và ngày 03 tháng 4 năm 1941, Tòa án binh Sài Gòn của chính quyền thực dân đã kết án tử hình đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai cùng các đồng chí lãnh đạo bị bắt trong cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ.
Sáng ngày 28 tháng 8 năm 1941, thực dân Pháp đưa đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai cùng các đồng chí cách mạng ra xử bắn tại Ngã ba Giồng, huyện Hóc Môn, tỉnh Gia Định (nay thuộc TP. Hồ Chí Minh).
Trên đường ra trường bắn, đồng chí vẫn cất cao giọng tố cáo tội ác tàn bạo của kẻ thù và kêu gọi nhân dân nổi dậy đấu tranh. Trước họng súng của kẻ thù, đồng chí cùng các đồng chí của mình đã giật tung dải bịt mắt, ngẩng cao đầu hô lớn những lời đáp vang vọng không gian:
"Đảng Cộng sản Đông Dương muôn năm!"
"Cách mạng Việt Nam thành công muôn năm!"
VI. Di sản lịch sử, lời đánh giá của Đảng và sự tri ân muôn đời
Lời đánh giá của Tổng Bí thư Lê Duẩn: Đánh giá về cuộc đời và sự nghiệp của người nữ anh hùng, đồng chí Lê Duẩn – Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng từng xúc động viết:
"Tôi đã gặp và làm việc với nhiều cán bộ nữ, nhưng chưa thấy ai có ý thức vươn lên gánh vác vai trò lãnh đạo cách mạng như đồng chí Minh Khai".
Sự tri ân và vinh danh:
Tên tuổi của đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai đã trở thành biểu tượng cao đẹp cho tấm gương phụ nữ Việt Nam "Bất khuất, trung hậu, đảm đang".
Tên của đồng chí được trân trọng đặt cho nhiều tuyến đường huyết mạch tại các thành phố lớn như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Vinh, Đà Nẵng, Nha Trang, Cần Thơ...
Nhiều ngôi trường giàu truyền thống như Trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai (TP. Hồ Chí Minh), Trường THPT Chuyên Nguyễn Thị Minh Khai (Sóc Trăng) cùng nhiều ngôi trường khác trên khắp cả nước tự hào mang tên bà.
Tại thành phố Vinh (Nghệ An), Nhà lưu niệm Nguyễn Thị Minh Khai được xây dựng trang trọng tại đường Quang Trung để lưu giữ những di vật và tôn vinh cuộc đời người nữ chiến sĩ cộng sản kiên trung.
Con gái của đồng chí – bà Lê Nguyễn Hồng Minh (sinh năm 1939) – sau này tập kết ra Bắc năm 1954, được đưa sang Trung Quốc và Liên Xô học ngành cơ khí chế tạo máy. Khi về nước, bà làm công tác nghiên cứu Lịch sử Đảng và công tác tại Ban Tổ chức Thành ủy TP. Hồ Chí Minh cho đến khi nghỉ hưu năm 1995.
Đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai ngã xuống khi mới trọn 31 tuổi xuân, nhưng hình ảnh người nữ Bí thư Thành ủy kiên cường với tiếng hô vang trước họng súng kẻ thù sẽ luôn là ngọn đuốc sáng soi đường cho các thế hệ trẻ Việt Nam học tập và noi theo.


