NGUYỄN THỊ MINH KHAI – CÁNH CHIM ĐẦU ĐÀN KIÊN TRUNG CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM
Đóa hoa kiên trung của phong trào cách mạng
“Vững chí bền gan ai hỡi ai Kiên tâm giữ dạ mới anh tài...”
Đó là những vần thơ được khắc trên vách xà lim của chị Nguyễn Thị Minh Khai trước ngày ra pháp trường. Những dòng thơ ấy cũng chính là bản tuyên ngôn cuộc đời của người nữ chiến sĩ cộng sản lỗi lạc, người đã dâng hiến trọn tuổi thanh xuân cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Nhà lãnh đạo tài năng vươn tầm quốc tế Sinh ra tại thành phố Vinh (Nghệ An) trong một gia đình trí thức, chị Nguyễn Thị Minh Khai sớm bộc lộ tư chất thông minh và tinh thần yêu nước. Không chấp nhận cuộc sống an phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến, chị đã thoát ly gia đình đi làm cách mạng khi mới 16-17 tuổi.
Năm 1935, tại Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ VII ở Moscow (Nga), cô gái Việt Nam nhỏ nhắn ấy đã khiến đại biểu các nước kinh ngạc và khâm phục. Với tư cách là đại biểu chính thức, chị đã dõng dạc đọc tham luận về vai trò của phụ nữ Đông Dương trong cuộc đấu tranh chống đế quốc. Giọng nói đanh thép, lập luận sắc sảo của chị trên diễn đàn quốc tế đã khẳng định vị thế của người phụ nữ Việt Nam: Không chỉ đảm việc nhà, mà còn gánh vác việc nước, việc thế giới.
Nữ Bí thư Thành ủy và nỗi đau riêng gác lại Về nước hoạt động, chị đảm nhận trọng trách Bí thư Thành ủy Sài Gòn – Chợ Lớn – một vị trí "đầu sóng ngọn gió" ngay tại sào huyệt địch. Chị là linh hồn của các phong trào công nhân, trực tiếp chỉ đạo cuộc đấu tranh tại "Hòn ngọc Viễn Đông".
Nhưng đằng sau hình ảnh người lãnh đạo sắt đá là trái tim của một người mẹ, người vợ chịu nhiều hy sinh. Chị kết hôn với đồng chí Lê Hồng Phong – một lãnh đạo cao cấp của Đảng. Hạnh phúc ngắn chẳng tày gang, cả hai đều bị cuốn vào vòng xoáy khốc liệt của cuộc chiến. Khi con gái nhỏ Hồng Minh mới vài tháng tuổi, chị đã phải gửi con nhờ người nuôi dưỡng để tiếp tục hoạt động.
Khi bị giặc bắt (năm 1940), điều đau đớn nhất với chị không phải là đòn roi tra tấn, mà là nỗi nhớ con quay quắt và tin chồng cũng đã sa vào tay giặc. Nhưng vượt lên tất cả tình riêng, chị vẫn giữ trọn khí tiết: "Việc cứu nước là việc chung, ai là người Việt Nam đều phải có trách nhiệm".
Phút giây lẫm liệt tại Ngã Ba Giồng Sáng ngày 28/8/1941, thực dân Pháp đưa chị cùng các đồng chí Võ Văn Tần, Hà Huy Tập... ra xử bắn tại Ngã Ba Giồng (Hóc Môn). Biết thời khắc cuối cùng đã điểm, chị Nguyễn Thị Minh Khai yêu cầu được tước bỏ băng bịt mắt. Chị muốn nhìn thấy đồng bào, nhìn thấy quê hương lần cuối.
Trước họng súng quân thù, chị không hề run sợ mà cất cao giọng nói đanh thép, tranh thủ từng giây phút để tuyên truyền cách mạng cho những người lính trong hàng ngũ địch: "Chúng tôi không có tội! Chúng tôi chết vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. Các anh là người Việt Nam, các anh đừng bắn vào người Việt Nam!"
Tiếng súng nổ. Chị ngã xuống khi mới 31 tuổi. Một ngôi sao sáng đã tắt trên bầu trời, nhưng ánh sáng của nó thì còn lan tỏa mãi.
Sống mãi tên vàng Sự hy sinh của chị Nguyễn Thị Minh Khai và các đồng chí lãnh đạo Đảng trong cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ là bản hùng ca bi tráng. Tên chị ngày nay được đặt cho những con đường đẹp nhất, những ngôi trường lớn nhất trên khắp cả nước.
Câu chuyện về chị là lời nhắc nhở sâu sắc cho thế hệ hôm nay: Phụ nữ Việt Nam không chỉ dịu dàng, đảm đang mà còn mang trong mình dòng máu anh hùng, bất khuất. Hạnh phúc cá nhân chỉ thực sự trọn vẹn khi được hòa vào độc lập, tự do của Tổ quốc.
Chị mãi là "Đóa hoa lan" (tên bí danh của chị) đẹp nhất, kiên cường nhất trong vườn hoa cách mạng Việt Nam.



