Bài viết

NGUYỄN THỊ MINH KHAI – MỘT TUỔI XUÂN GIỮA THỜI HOA LỬA

Quảng Ngãi30/09/2026Trương Nguyễn Minh Châu (Đoàn Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh)1 lượt xem0 lượt chia sẻ
NGUYỄN THỊ MINH KHAI – MỘT TUỔI XUÂN GIỮA THỜI HOA LỬA

Có những tuổi trẻ bắt đầu bằng những ước mơ rất đỗi bình dị: được học tập, được yêu thương, được sống một cuộc đời của riêng mình. Nhưng trong những năm tháng đất nước chìm trong biến động, có những người trẻ đã chọn một con đường khác – con đường đặt lý tưởng và vận mệnh của quê hương lên trên những ước vọng riêng. Nguyễn Thị Minh Khai là một trong những người phụ nữ như thế.

Nguyễn Thị Minh Khai tên thật là Nguyễn Thị Vịnh, sinh năm 1910 tại Vinh, Nghệ An, trong một gia đình công chức. Tuổi thơ của bà gắn với thành phố Vinh – một vùng đất sớm hình thành phong trào yêu nước và đấu tranh của công nhân, học sinh. Năm 1919, bà bắt đầu học chữ Quốc ngữ rồi theo học tại Trường Tiểu học Cao Xuân Dục ở Vinh. Chính môi trường ấy đã góp phần mở ra trước mắt cô gái trẻ những suy nghĩ vượt khỏi cuộc sống riêng của một người bình thường.

Từ cô gái trẻ đến người hoạt động cách mạng

Năm 1927, khi mới 17 tuổi, Nguyễn Thị Minh Khai bắt đầu tham gia phong trào công nhân ở Vinh và tham gia tổ chức Hội Hưng Nam, tiền thân của Tân Việt Cách mạng Đảng. Bà được bầu vào Ban Chấp hành Đảng bộ. Những năm tháng tuổi trẻ của bà từ đó gắn liền với hoạt động tuyên truyền, vận động và tổ chức phong trào.

Năm 1929, Nguyễn Thị Minh Khai bí mật thoát ly gia đình và tham gia hoạt động cách mạng. Đầu năm 1930, bà được kết nạp vào tổ chức cộng sản. Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, bà tiếp tục hoạt động với vai trò tuyên truyền và huấn luyện đảng viên tại khu vực Trường Thi, Bến Thủy. Ở tuổi đôi mươi, thay vì một cuộc sống bình thường, bà đã lựa chọn dấn thân vào một con đường đầy nguy hiểm.

Không lâu sau, bà được cử sang Hương Cảng làm việc tại Văn phòng chi nhánh Đông phương bộ của Quốc tế Cộng sản. Tại đây, bà có điều kiện tiếp xúc với Nguyễn Ái Quốc và được học hỏi thêm về lý luận, tổ chức và kinh nghiệm hoạt động cách mạng. Bà làm liên lạc giữa Thị ủy Hương Cảng của Đảng Cộng sản Trung Quốc với các tổ chức cách mạng Việt Nam ở giữa mạng lưới dày đặc cảnh sát và mật thám của thực dân Anh. Trong thời gian ở Hương Cảng, bà lấy bí danh là Cô Duy, Trần Thái Lan, Lý Huệ Phương.

Năm 1931, Nguyễn Thị Minh Khai bị thực dân Anh cấu kết với thực dân Pháp và chính quyền phản động ở Quảng Châu bắt giam. Mặc dù bị tra tấn, đánh đập dã man, bà không hề bị khuất phục. Nhờ sự can thiệp của Quốc tế Đỏ.

Năm 1933, Nguyễn Thị Minh Khai được trả tự do. Ra tù, bà đổi tên là Thị Vai và tìm đến Thượng Hải, bắt đầu liên lạc và hoạt động trong ban lãnh đạo của Đảng ở ngoài nước.

Những năm tháng ở nước ngoài

Năm 1934, sau khi được trả tự do, Nguyễn Thị Minh Khai tiếp tục hoạt động và đầu năm 1935, bà cùng đồng chí Lê Hồng Phong được cử tham dự Đại hội VII Quốc tế Cộng sản tại Moskva cùng đoàn đại biểu của Đảng. Tại Đại hội, với bí danh Phan Lan, bà tham gia phát biểu về vai trò của phụ nữ Đông Dương trong phong trào cách mạng. Đây là một dấu mốc đặc biệt trong cuộc đời bà. Từ một cô gái trẻ ở Vinh, Nguyễn Thị Minh Khai đã bước lên một diễn đàn quốc tế, mang tiếng nói của phụ nữ và phong trào cách mạng Việt Nam đến với những người cách mạng từ nhiều quốc gia khác nhau.

Sau đó, Nguyễn Thị Minh Khai học tập tại Trường Đại học Phương Đông ở Moskva. Trong thời gian hoạt động tại nước ngoài, bà gặp và kết hôn với Lê Hồng Phong – một người đồng chí cùng hoạt động cách mạng. Mối quan hệ của họ không chỉ là tình cảm của hai người trẻ mà còn gắn bó với lý tưởng cách mạng. Cả hai đều dành phần lớn cuộc đời mình cho hoạt động cách mạng và đều phải đối diện với những năm tháng xa cách, tù đày và hiểm nguy.

Trở về Sài Gòn – Chợ Lớn

Năm 1936, Nguyễn Thị Minh Khai được cử về nước. Bà được đưa vào Xứ ủy Nam Kỳ và giữ chức Bí thư Thành ủy Sài Gòn – Chợ Lớn. Đây là giai đoạn phong trào cách mạng tại Sài Gòn phát triển mạnh trong bối cảnh tình hình chính trị có nhiều thay đổi. Ở Sài Gòn, bà hoạt động trong điều kiện luôn phải giữ bí mật. Bà sử dụng bí danh Năm Bắc, thường xuyên thay đổi cách ăn mặc, nơi ở và phương thức liên lạc để tránh sự theo dõi của chính quyền thuộc địa. Những cơ sở cách mạng ở Hóc Môn – Bà Điểm trở thành một phần quan trọng trong hoạt động của bà và các đồng chí.

Không chỉ hoạt động tổ chức, bà còn quan tâm đến vấn đề phụ nữ. Trong thời gian giữ vai trò lãnh đạo tại Sài Gòn – Chợ Lớn, bà viết nhiều bài báo đăng trên báo Dân Chúng, kêu gọi chị em phụ nữ Việt Nam noi gương phụ nữ Liên Xô, hăng hái hơn nữa trong các phong trào đấu tranh chống áp bức, bóc lột. Lời kêu gọi ấy đã cổ vũ chị em phụ nữ hưởng ứng tích cực các cuộc đấu tranh do Đảng ta lãnh đạo.

Cuộc sống của bà lúc ấy gần như không có chỗ cho sự bình yên. Những cuộc gặp gỡ thường diễn ra bí mật, những chuyến đi luôn tiềm ẩn nguy hiểm. Thế nhưng, giữa cuộc sống đầy căng thẳng ấy, bà vẫn là một người phụ nữ với những tình cảm rất đời thường: nhớ gia đình, nhớ người thân và mang trong lòng tình cảm dành cho người chồng đang cùng mình đi trên một con đường đầy gian nan.

Những ngày cuối cùng

Chiến tranh thế giới thứ II nổ ra, thực dân Pháp thẳng tay đàn áp phong trào cách mạng ở Đông Dương. Trung ương Đảng chủ trương rút vào hoạt động bí mật và tập trung lực lượng chống chiến tranh đế quốc, giành độc lập dân tộc. Giai đoạn này, Nguyễn Thị Minh Khai được Xứ ủy Nam Kỳ chỉ định làm Bí thư Thành ủy Sài Gòn – Chợ Lớn. Trong điều kiện khó khăn, bà luôn bám sát cơ sở hoạt động và lãnh đạo nhiều cuộc đấu tranh lớn.

29/9/1939, trong lúc đang làm nhiệm vụ, chồng bà bị giặc Pháp bắt giam.

Mùa xuân năm 1940, chỉ vài ngày sau khi Nguyễn Thị Minh Khai hạ sinh đứa con đầu lòng và duy nhất, bà đã phải xa con để tiếp tục công tác cách mạng.

30/7/1940, Nguyễn Thị Minh Khai bị bắt ngay sau một phiên họp của Xứ ủy Nam Kỳ. Bà bị đưa vào Khám Lớn Sài Gòn, giam tại bót Catinat. Chúng đưa Lê Hồng Phong về nhận mặt bà để có chứng cứ kết án xử tử hình cả hai người về cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ. Nhưng chúng đã thất bại vì hai chiến sĩ dũng cảm của nhân dân ta không nhận một điều gì, kể cả mối quan hệ vợ chồng với nhau. Tra khảo không được, giặc Pháp đưa bà vào giam ở Khám Lớn Sài Gòn. Sau 8 tháng giam cầm và dụ dỗ, 21/1/1941, thực dân Pháp đưa bà ra tòa án và kết án 5 năm tù khổ sai, 20 năm biệt xứ.

11/3/1941, Tòa án Thượng thẩm Sài Gòn của địch nâng án lên 5 năm tù khổ sai, 20 năm biệt xứ, 20 năm mất quyền công dân và phạt 11.000 đồng bạc Đông Dương.

25/3/1941 và 3/4/1941, thực dân Pháp đưa Nguyễn Thị Minh Khai ra Tòa án binh Sài Gòn, xử tử bà cùng các đồng chí khác bị bắt trong cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ với tội mà chúng bịa ra là “xúi giục dân chúng làm rối loạn quốc gia” và “mưu toan lật đổ chính phủ”.

28/8/1941, Nguyễn Thị Minh Khai hô to tố cáo tội ác kẻ thù và kêu gọi bạn tù nổi dậy đấu tranh nhưng thất bại. Chúng lập tức đưa bà và các đồng chí ra bãi xử bắn. Trước họng súng của địch, Nguyễn Thị Minh Khai cùng các đồng chí đã giật tung dải bịt mắt, ngẩng cao đầu hô lớn: “Đảng Cộng sản Đông Dương muôn năm! Cách mạng Việt Nam thành công muôn năm!”

Nguyễn Thị Minh Khai cùng các đồng chí đã ngã xuống, nhưng khí phách anh hùng của những người Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam luôn mãi sáng ngời trong lịch sử dân tộc.

Một tuổi xuân không bị lãng quên

Nhìn lại cuộc đời Nguyễn Thị Minh Khai, “thời hoa lửa” không chỉ hiện lên qua những năm tháng đấu tranh, mà còn qua hình ảnh một người phụ nữ có tuổi trẻ, có gia đình, có tình yêu và những ước mơ riêng. Tuổi xuân của bà dừng lại ở tuổi 31, nhưng những câu chuyện về bà vẫn tiếp tục được kể qua những trang sử, những con đường, ngôi trường và kỷ vật được lưu giữ. Đó là câu chuyện về một tuổi trẻ đã sống trọn với thời đại và để lại dấu ấn vượt qua giới hạn của một đời người.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn