Nguyễn Thị Nâu
Sinh ra và lớn lên trong bối cảnh đất nước bị thực dân Pháp xâm lược, sống trên mảnh đất được mệnh danh “đất thép” với truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm kiên cường, bất khuất và tình yêu nước nồng nàn. Xuất thân trong một gia đình cách mạng truyền thống, mẹ Nguyễn Thị Nâu nhiều lần tổ chức nuôi giấu cán bộ tại hầm bí mật của gia đình để hoạt động và còn nhận nhiệm vụ tiếp tế lương thực, thuốc men cho bộ đội. Dù trong hoàn cảnh khó khăn nào, mẹ cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, cán bộ được mẹ che giấu đều an toàn trong vòng vây của địch.
Mẹ sinh được 6 người con (4 trai, 2 gái). Tất cả các con của mẹ đều thoát ly gia đình tham gia vào các lực lượng võ trang cách mạng, trực tiếp cầm súng chiến đấu bảo vệ quê hương trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ.
Mẹ có 4 người thân là liệt sĩ, gồm 4 người con trai: Võ Văn Sinh, sinh năm 1929. Trước sự tàn bạo của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, năm 1945 khi vừa tròn 16 tuổi, ông đã tham gia cách mạng và trở thành Xã đội trưởng xã Trung An. Năm 1966, mẹ đã khóc thầm lặng lẽ trước sự hy sinh của người con trai đầu trong một lần tham gia nhiệm vụ. Con trai thứ hai của mẹ là ông Võ Văn Xí, sinh năm 1934. Năm 1960, ông tham gia công tác tại địa phương. Nhưng sau đó vào năm 1961, ông thoát ly khỏi gia đình và trực tiếp tham gia công tác tại công trường chế tạo vũ khí. Năm 1970, mẹ lại lặng lẽ khóc thầm để tiễn con trai về với đất mẹ tại xã An Phú khi thực hiện nhiệm vụ.
Con trai thứ ba của mẹ là ông Võ Văn Đồn, sinh năm 1937, tham gia cách mạng vào năm 1958. Với sự nhiệt huyết của tuổi trẻ, ông đã dùng cả thanh xuân để cống hiến cho đất nước. Ông đã trở thành tiểu đội trưởng K.17 Quyết thắng, quân khu 4. Trẻ tuổi gần như nhất nhà, nhưng ông là người hy sinh đầu tiên, tháng 03/1962 trong một trận đánh bót An Nhơn Tây, ông đã hy sinh vì đât nước vì dân tộc khi vừa tròn 25 tuổi.
Con trai thứ tư của mẹ là ông Võ Văn Thiện hay còn gọi là Võ Văn Thiệu sinh năm 1940. Vào năm 1960, cùng với anh hai là ông Võ Văn Xí, ông đã tham gia vào công tác cách mạng. Khi ấy ông được giữ chức vụ là Tiểu đội trưởng trinh sát Sài Gòn – Gia Định. Nước mắt chưa vơi thì tin dữ lại đến, mẹ luôn nhận tin dữ từ những người con, trinh sát Võ Văn Thiện đã anh dung hy sinh ở Bến Mương, Phú Hòa Đông.
Trước hoàn cảnh đó, Mẹ chấp nhận làm điểm tựa cho các tiền phương, là bóng mát chở che, là nhựa sống truyền cho chồi non lộc biếc lớn lên. Mẹ đã chiến đấu đến cùng, bằng thể xác lẫn tinh thần.
Mẹ đã cùng hai người con gái là bà Võ Thi Sáng và bà Võ Thị Thọ tiếp tục là những hậu phương vững chắc cho cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ
Từ chống thực dân Pháp qua đánh đế quốc Mỹ, trong khu vườn của Mẹ luôn có những căn hầm bí mật dưới bụi tre, gốc mít- nơi Mẹ và 2 người con gái nuôi giấu hàng nghìn lượt cán bộ, bộ đội, du kích.
Bao đêm dài, Mẹ thao thức canh chừng nhiều cuộc họp quan trọng của cán bộ, chiến sĩ ngay dưới những căn hầm bí mật trong khu vườn nhà. Trên miệng hầm, Mẹ trồng thật nhiều cỏ, vừa để ngụy trang, vừa cho bò ăn. Lúc không có địch, hai mẹ con mở hé cửa hầm cho người ở dưới dễ thở, hễ có động lại giả vờ ra dắt bò, cắt cỏ để chỉnh sửa, ngụy trang lại miệng hầm.
Sinh ra và lớn lên trong gia đình có tinh thần yêu nước nồng nàn, 2 người con gái của mẹ cũng sớm nhận thức được điều đó. Tiếp nối truyền thống của các anh.
Bà Võ Thị Sang là trưởng ban đấu tranh huyện Củ Chi và là Bí thư Chi bộ ấp An Hòa. Bà Võ Thị Thọ làm công tác giao liên, là cơ sở tin cậy, nuôi dưỡng cán bộ khi đi công tác ở nội thành Sài Gòn trước năm 1975.
Xin được cúi đầu trước gia đình của người mẹ anh hùng với những người con anh hùng, vĩ đại Mẹ Nguyễn Thị Nâu sinh ra trong gia đình nghèo khó ở xã Thanh Tân, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Từ nhỏ đã theo cha mẹ ngày đêm dầm mình mò cua, bắt cá nuôi gia đình. Lên 8 tuổi, cô bé Nâu mồ côi mẹ phải đi ở đợ rồi xung phong làm canh gác, giao liên giúp cán bộ cách mạng. Trong suy nghĩ của cô khi đó chỉ mong sao góp công sức cùng mọi người đánh đuổi giặc Pháp.
Mẹ kể: “Lúc đó tôi còn trẻ con nhưng lanh lẹ, tháo vát. Cũng vì thế mà tổ chức chọn tôi làm giao liên. 4 năm sau, tôi phải lòng với ông Nguyễn Văn So (đồng đội) rồi nên duyên vợ chồng”. 4 năm sau ngày lấy chồng, mẹ sinh con nhưng vẫn một lòng đi theo cách mạng. Mẹ cho biết, dù phải nuôi đông con nhưng vì căm thù bọn Mỹ - ngụy giày xéo đất nước, thương các chú bộ đội ngày đêm canh gác, chiến đấu nên hằng ngày mẹ như một con sóc chui hầm, leo trèo lên tận ngọn dừa đưa cơm cho bộ đội. Mẹ còn đảm nhiệm nhiều việc khác như giao liên, đào hầm, nấu cơm. Năm 1965, trong một lần đi rải truyền đơn chống dồn dân vào ấp chiến lược, mẹ bị địch bắt giam khi đang mang bầu 2 tháng và mãi cho đến tết Mậu Thân năm 1968 mới được thả. Dù vậy, mẹ vẫn tiếp tục hoạt động cho đến ngày đất nước hoàn toàn giải phóng.
Qua hàng chục năm theo cách mạng, mẹ trở thành mẹ nuôi của nhiều cán bộ trong kháng chiến, trong đó có những người nay là lãnh đạo cấp cao như đồng chí Lê Hồng Anh, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban bí thư; đồng chí Trương Vĩnh Trọng, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ... Nhớ tới công ơn của mẹ, các đồng chí vẫn thường xuyên đến thăm hỏi, động viên nhân các dịp lễ, tết.
Năm 2014, mẹ được Nhà nước phong tặng danh hiệu Mẹ Việt Nam anh hùng.
Hòa bình lập lại, mẹ nuôi 6 người con ăn học nên người, có việc làm ổn định ở mọi lĩnh vực. Trong đó, người con thứ 4 là Thiếu tướng Nguyễn Văn Danh, hiện công tác tại Bộ Công an. Sau hàng chục năm hoạt động cách mạng, tần tảo nuôi con, đáng lẽ đã đến lúc được nghỉ ngơi nhưng mẹ chưa muốn dừng lại mà tự lực vươn lên làm giàu, giúp ích cho xã hội. Năm 1985, mẹ lên vùng đất mới Minh Lập khai hoang lập nghiệp, trồng lúa, hoa màu, bạch đàn, sau này, trồng điều, cao su. Có nguồn thu nhập ổn định, nghĩ lại cảnh cực khổ lúc nhỏ nên đã tích cực hoạt động từ thiện. Những đơn vị, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có hoàn cảnh khó khăn, hoạn nạn mẹ đều sẵn lòng giúp đỡ. Hiện mẹ không nhớ mình làm công tác xã hội được bao nhiêu và từ bao giờ, chỉ nhớ là khi còn khỏe, làm ra tiền mẹ ủng hộ xây 3 căn nhà tình thương, 3 cây cầu, tặng hàng chục sổ tiết kiệm cho hộ nghèo; mỗi năm tặng 3.000 cuốn tập cho học sinh nghèo; các đợt lũ lụt tại miền Trung, Bến Tre, Đồng Tháp mẹ đều ủng hộ, mỗi đợt trị giá từ 50-80 triệu đồng...
Khoảng 10 năm trở lại đây, do không còn sức lao động, mẹ đầu tư vốn xây dựng chùa Hoa Nghiêm tại xã Minh Lập (do mẹ làm trụ trì) để tăng ni, phật tử đến chùa lễ bái, cầu bình an, sức khỏe và tổ chức các hoạt động từ thiện xã hội. Trước đây, vào các ngày 15 và 30 âm lịch hằng tháng, chùa đều tặng 150-200 suất cơm cho bếp ăn của Bệnh viện đa khoa tỉnh. Đến nay, do nhu cầu của bếp ăn Bệnh viện, chùa tăng lên mỗi tuần 150 suất và phát vào chiều chủ nhật hằng tuần. Ngoài ra, mỗi tháng chùa tặng 100kg gạo cho người nghèo ở xã.
Hiện mẹ có hàng chục ha điều, cao su nhưng chỉ giữ lại căn nhà gỗ lợp tôn để ở, số còn lại mẹ cho các con. Tuy nhiên, theo mẹ, khi cần đến kinh phí để làm từ thiện, các con của mẹ đều sẵn sàng. Với tấm lòng nhân hậu của mình, mẹ được Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch UBND tỉnh tặng bằng khen “Cựu chiến binh làm kinh tế giỏi - giàu lòng nhân ái”.



