Nguyễn Thị Ngọc Lan – Người may cờ Tổ quốc cho chiến thắng Buôn Ma Thuột
Tham gia cách mạng từ rất trẻ, có năng khiếu may vá, năm 1966 bà Nguyễn Thị Ngọc Lan được phân công về Tổ may mặc (Tổ may vá) thuộc Ban Kinh tài khu căn cứ H4 ở Đắk Lắk. Giữa núi rừng, trong một “xưởng may” chỉ vài mét vuông, bà và đồng đội lặng lẽ may hàng trăm lá cờ đỏ sao vàng bằng vải đỏ, vải vàng mua từ vùng địch. Đêm 10–3–1975, nghe tin Buôn Ma Thuột giải phóng, bà òa khóc vì hạnh phúc khi biết những lá cờ mình may đang tung bay rực đỏ trên thành phố vừa được giải phóng.
Năm 1966, cô gái 24 tuổi Nguyễn Thị Ngọc Lan rời quê Phước Thắng (Tuy Phước, Bình Định), vượt đường rừng, băng suối hơn một tháng trời để lên căn cứ H4 của Đắk Lắk. Tham gia cách mạng từ nhỏ, lại khéo tay, có nghề may, chị được phân công về Tổ may mặc – Ban Kinh tài của huyện H4 (khu căn cứ H4), nhiệm vụ nghe thì giản dị: may vá quần áo, ba lô, túi đựng gạo cho cán bộ, thương binh và lực lượng nội tuyến. Ít ai ngờ, chính đôi tay ấy sau này sẽ may nên những lá cờ Tổ quốc bay trên bầu trời Buôn Ma Thuột ngày chiến thắng.
Căn cứ H4 nằm giữa rừng sâu. “Xưởng may” của tổ chỉ là một gian lán dựng bằng cọc gỗ, bốn bề quây liếp tranh, phía trên phủ lớp vải dù và tăng võng để che mưa bom, nắng gắt. Giữa gian lán ấy, một chiếc máy may đạp chân đặt trên chiếc bàn ghép từ những tấm ván thô, xung quanh là những bó vải, cuộn chỉ, kéo, thước… Tổ may vá chỉ có ba người, nhưng công việc thì không lúc nào ngơi tay: lúc thì may áo quần, lúc may ba lô, túi gạo, lúc lại vá áo rách cho thương binh mới chuyển về trạm.
Khó khăn nhất không phải là may, mà là có vải để may. Nguồn vải, đặc biệt là vải đỏ, vàng để may cờ, hầu như không thể có ở căn cứ. Bà Lan và đồng đội phải thường xuyên bám cơ sở trong vùng tạm chiếm, liên hệ với những người dân tin cậy để mua từng xấp vải. Điểm tập kết chính là đồn điền Rosi – nay là phường Đạt Hiếu (thị xã Buôn Hồ). Mỗi lần cơ sở báo “an toàn”, không có lính ngụy lùng sục, họ mới dám bí mật men theo đường rừng, lối mòn xuống lấy hàng. Có khi đang gùi vải đi thì bất ngờ gặp địch, chị em phải tìm cách tản ra, giấu vải vào bụi rậm, khe đá, chờ yên mới quay lại lấy. Chỉ cần bị bắt gặp mang theo vải đỏ, vải vàng là có thể bị bắt, bị tra tấn ngay lập tức.
Khoảng đầu tháng 2 năm 1975, tình hình chiến trường khẩn trương hơn. Tổ may của bà Lan nhận lệnh: “May cờ đỏ sao vàng liên tục, càng nhiều càng tốt.” Lúc đó, thông tin về kế hoạch chiến dịch còn tuyệt mật; chị em chỉ biết cấp trên giao việc là nhận, không hỏi nhiều. Trong lán nhỏ giữa rừng, một “dây chuyền” đặc biệt được thiết lập: một người chuyên cắt vải đỏ theo kích thước 1,2m x 0,8m, một người cắt ngôi sao vàng năm cánh rộng 40cm, người còn lại lắp ráp, may ráp sao vào nền cờ.
Nhịp máy may không ngừng nghỉ. Ngày đạp, đêm đạp, nhiều khi tiếng máy hòa trong tiếng côn trùng rừng, tiếng bom đạn vọng từ xa. Cứ 3–4 ngày, tổ lại hoàn thành khoảng 100 lá cờ, xếp gọn vào bao, chờ cán bộ đội công tác của tỉnh đến nhận rồi bí mật đưa về các đơn vị, cơ sở nội thành. “Lúc đó mình chỉ nghĩ đơn giản: làm theo nhiệm vụ tổ chức giao, may được càng nhiều cờ càng tốt để phục vụ cách mạng”, bà Lan kể lại.
Đêm 10/3/1975, trong lán nhỏ H4, ba chị em đang lúi húi bên máy may thì tiếng radio vang lên, truyền đi tin nóng: quân ta đã tấn công, tiến vào giải phóng Buôn Ma Thuột. Giây phút ấy, mọi người lặng đi vài nhịp, rồi òa khóc. Từ rừng sâu, họ hình dung ra những phố phường, ngã sáu, những trụ sở ngụy quyền ở Buôn Ma Thuột đang rực đỏ cờ sao vàng. Những lá cờ đỏ ấy, có không ít lá vừa được họ may xong cách đó vài ngày.
Niềm vui ấy kéo dài đến ngày 18/3/1975, khi Ủy ban Quân quản thị xã Buôn Ma Thuột ra mắt nhân dân tại đình Lạc Giao, giữa rừng cờ đỏ sao vàng ngợp trời. Đứng lẫn trong dòng người dự buổi lễ, bà Lan và các chị em trong tổ may cờ không ai nhận ra, nhưng trong lòng họ là niềm hạnh phúc không thể đo đếm: những tấm vải vô tri từng đi qua đôi tay mình đã trở thành biểu tượng thiêng liêng của Tổ quốc trong ngày thành phố được giải phóng.
Nửa thế kỷ trôi qua, trong căn nhà nhỏ trên đường Nguyễn Viết Xuân ở Buôn Ma Thuột, bà Lan nay đã ngoài 80 tuổi, nhưng mỗi mùa tháng Ba, tháng Tư, ký ức về “xưởng may giữa rừng” và những đêm thức trắng bên máy may lại ùa về. Bà vẫn nói giản dị: “Lúc đó, mình chỉ nghĩ làm cho tốt phần việc nhỏ bé của mình. Không ngờ những lá cờ ấy lại bay trên thành phố ngày chiến thắng lớn như vậy.”
Nhưng chính từ những việc “nhỏ bé” ấy – một tổ may vá, ba người phụ nữ, một chiếc máy may đạp chân giữa rừng – mà hình ảnh lá cờ Tổ quốc trong ngày Chiến thắng Buôn Ma Thuột và Đại thắng mùa Xuân 1975 được nhân lên rực rỡ. Đó là câu chuyện thời hoa lửa của Nguyễn Thị Ngọc Lan – người may cờ Tổ quốc cho chiến dịch năm xưa ở Tây Nguyên


