Mẹ Việt Nam Anh hùng

NGUYỄN THỊ RÀNH_ BÀ MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG (1)

Từ lịch sử dân tộc đến hình tượng Bà mẹ Việt Nam anh hùng.Lịch sử dân tộc Việt Nam được tạo nên không chỉ bởi những chiến thắng vang dội hay những tên tuổi gắn liền với chiến trường, mà còn bởi sự hi sinh thầm lặng của hàng triệu con người bình dị. Trong dòng chảy lịch sử ấy, hình ảnh người mẹ Việt Nam hiện lên như một biểu tượng thiêng liêng của lòng yêu nước, của đức hi sinh và của sức mạnh tinh thần phi thường. Bà mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Rành là một trong những con người như thế – một

Thái Nguyên12/03/2026K20CIE- Viện Quốc tế Giáo dục & Đổi mới (Đại học Thái Nguyên)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Cô bé Rành chào đời năm 1900 trong một gia đình nông dân nghèo, sẵn có truyền thống yêu nước ở ấp Trại Đèn, xã Phước Hiệp, huyện Hóc Môn, tỉnh Gia Định (nay thuộc huyện Củ Chi, Tp.Hồ Chí Minh). Bấy giờ, ở Nam Kỳ, hội kín phát triển mạnh, đặc biệt là phong trào “Thiên Địa hội” của Phan Xích Long nổ ra tại Sài Gòn đã có tác động mạnh mẽ đến các tầng lớp nhân dân. Năm 1913, người cha của Rành bị thực dân Pháp bắt vì tội “làm quốc sự”, bị đày ra Côn Đảo và biệt tích. Nhà chỉ có hai anh em, quá nghèo và cực khổ, nên người anh của Rành đi ở trừ nợ từ trước. Ngày ngày, Rành đi mò tôm, xúc cá, mang ra chợ kiếm cái đắp đổi qua ngày. Nỗi đau mất cha còn chưa kịp nguôi ngoai, thì người mẹ đột ngột qua đời. Với món nợ truyền kiếp, nhưng “gia sản” chỉ có căn lều rách te tua như lều vịt, nên dù mới 14 tuổi, Rành bị tay xã trưởng cho người lôi về nhà hắn. Quãng đời đi ở đợ làm công, đói rách, cơ cực không sao kể xiết. Nhưng cô bé Rành cứ thế vụt lớn lên thành một thiếu nữ biết tự trọng, giàu tình cảm và cứng cỏi.

Mười tám tuổi, Rành gặp anh hương sư Nguyễn Văn Cầm (Tám Cầm), quê ở ấp Bàu Công, xã Tân Mỹ, huyện Đức Hòa, Long An, về dạy học trong vùng. Rồi họ nên vợ, nên chồng. Hai năm sau đó, bà hạ sinh người con trai cả Nguyễn Văn Dúng và theo chồng về tiếp quản một trường học ở miền Tây. Trong vòng 22 năm (1920-1942) má Nguyễn Thị Rành sinh hạ 10 người con, 8 trai, 2 gái. Năm 1941, thầy nghỉ dạy để có điều kiện tham gia hoạt động cách mạng. Mẹ được bà con xóm giềng khen ngợi: “Vợ thầy Cầm đẹp nết, đẹp người”. Lấy chồng, mẹ lại phải vừa lo cho gia đình vừa lo cho đất nước. Trong những năm chiến tranh, mẹ là người chí cốt với cách mạng “Một tấc không đi, một ly không rời”, mẹ quyết không vào ấp chiến lược của địch, mà ở lại xã Phước Hiệp chịu đựng bom rơi, pháo chụp. Mẹ nuôi dưỡng cán bộ, chiến sĩ, du kích địa phương và chỉ vẽ cho con cháu đánh giặc. Trong hệ thống địa đạo Củ Chi nổi tiếng, có công lao đóng góp của mẹ. Cùng với nhân dân Củ Chi, mẹ nhẫn nại kiên trì đào hầm để chiến đấu, tự vệ và phục vụ cuộc chiến đấu chống Mỹ ròng rã của nhân dân vùng đất thép nổi tiếng. Địch nhiều lần bắt mẹ, hết dụ dỗ, lừa gạt đến tra tấn dã man hòng ép mẹ kêu gọi con cháu về đầu hàng chúng và ly khai với cách mạng. Nhưng trước sau, mẹ vẫn một lòng một dạ kiên trung, bất khuất, bám trụ giữ đất, nuôi dưỡng cán bộ, chiến sĩ và đội du kích nữ Củ Chi đến ngày toàn thắng. Trong thời kỳ đen tối của cách mạng miền Nam, Củ Chi là một trong những nơi bị địch đàn áp khốc liệt, nhất là sau khi có đạo luật phát xít 10/59, Ngô Đình Diệm lê máy chém đi khắp miền Nam. Ngoài việc tham gia “đội quân tóc dài”, đấu tranh trực diện với địch, má Tám còn đào hầm nuôi giấu cán bộ, tiếp tế cho du kích… Địch bắt nhốt má nửa tháng trời tại đồn quận lỵ Củ Chi, để hòng dụ Nguyễn Văn Vé - người con thứ 4 ra hồi chánh. Và thêm một khúc ruột của má bị cắt lìa, chiến sĩ du kích Năm Vé anh dũng hy sinh. Nuốt nước mắt vào trong, vợ chồng má kêu cả đàn con đến trước thi hài của Năm Vé và nói như dao chém đá: “Mấy đứa bây coi gương của anh Hai, anh Ba, thằng Năm. Coi đó mà trả thù cho tụi nó!”. Cuối năm 1960, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời, gần giáp Tết, má Tám Rành cùng một số người trong Hội Mẹ chiến sĩ được mời dự hội nghị do Huyện ủy Củ Chi tổ chức bên bờ sông Vàm Cỏ Đông. Ngắm lá cờ nửa đỏ, nửa xanh, lòng má bừng lên một tinh thần mới!

Năm 1965, Mỹ đổ quân vào miền Nam Việt Nam. Cùng với việc xây dựng căn cứ Đồng Dù, địch tăng cường chà xát, biến Củ Chi thành vùng trắng, bình địa. Sau khi bẻ gãy 2 trận càn với quy mô cực lớn là Crimp (Cái bẫy) và Cedar Falls “bóc vỏ trái đất”, tại Đại hội Anh hùng chiến sĩ thi đua toàn Miền lần thứ 2 (tháng 9-1967), Củ Chi được tặng danh hiệu “Đất thép Thành đồng”. Trong năm này, 3 lần má Rành nhận tin dữ. Chiến sĩ Nguyễn Văn Hè, người con thứ 5 bị địch khui hầm, trúng đạn chỉ cách nhà mẹ chừng vài trăm thước. Tiếp đến, đứa cháu nội Nguyễn Văn Rưng (con anh Hai Dúng), tiểu đội phó đặc công, hy sinh. Người con thứ 8, Nguyễn Văn Nâng, Xã đội trưởng Phước Hiệp bị pháo địch dập trúng. Là chính trị viên xã đội, má nuốt nước mắt, cắn chặt môi, nén lòng để giữ vững tinh thần cho các chiến sĩ du kích tiếp tục chiến đấu.

Tết Mậu Thân 1968, ông giáo Tám đau yếu phải về quê nội dưỡng bệnh. Một mình má Tám sửa soạn bàn thờ cúng gia tiên. Trước 5 bát nhang, má lầm rầm khấn: các con sống làm chiến sĩ, chết anh hùng vì dân vì nước, ráng phù hộ cho anh em đánh giặc. Rồi má lấy chéo khăn rằn chấm nước mắt… Ra giêng, má Tám đứt đoạn thêm hai khúc ruột nữa. Chiến sĩ Nguyễn Văn Sướng, con thứ 7, vừa ngã xuống; tiếp đến Nguyễn Văn Huội, con thứ 6 hy sinh trong trận nhổ đồn địch ở An Nhơn Tây. Nhận tin dữ, má ôm con dâu và đứa cháu nội (con Bảy Huội) vào lòng, ngỡ mình không sống nổi. Bọn ác ôn đưa má Tám về đồn, giở trò dọa dẫm đủ đường, suốt tuần lễ, má không ăn, chỉ nhai trầu, uống nước cầm hơi. Cuối cùng chúng đành chào thua và thả bà Tám Trầu “cứng cổ”. Huyện ủy, Huyện đội Củ Chi lo cho sự an nguy của má Tám, nhưng má không chịu. Má nói với anh em, tụi bây báo với cấp trên, Tám Rành nầy còn giọt máu cuối cùng vẫn một lòng một dạ với cách mạng!

Đầu năm 1969, trong một trận đột nhập căn cứ địch, quân ta diệt nhiều tên. Khi đơn vị lui quân, chiến sĩ Nguyễn Văn Luông, người trai út của má Rành ở lại cản hậu và trúng đạn. Trước tột cùng nỗi đau, cả 8 người con trai cùng đứa cháu đích tôn hy sinh, năm sau, ông giáo Tám Cầm về với ông bà tổ tiên. Năm 1970, thêm đứa cháu ngoại là chiến sĩ Huỳnh Văn Cường, con chị Nguyễn Thị Săng (con thứ 3 của má), hy sinh tại Mộc Hóa, Long An.

Dường như má Rành đã khô kiệt nước mắt. Con người má quánh đặc nỗi đau. Nhưng không chỉ lao vào hoạt động, má như cây cột trụ làm chỗ dựa vững chắc cho con dâu, con gái kiên cường sống. Ngày 29-4-1975, từ sáng sớm má Tám đã xuống đường. Má treo cờ đỏ sao vàng lên ngọn cây điệp ở đầu ấp Phước Hòa, xã Phước Hiệp, mở màn cho cuộc nổi dậy giành chính quyền của nhân dân xã nhà.

3. Bà mẹ Đất Thép Củ Chi – giá trị lịch sử và sức mạnh tinh thần.

Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, Củ Chi trở thành “đất thép thành đồng”, nơi bom đạn dội xuống dày đặc nhưng ý chí kháng chiến của nhân dân không hề suy chuyển. Trong bối cảnh ấy, bà Nguyễn Thị Rành không chỉ góp sức bằng lao động và hậu cần, mà còn trở thành chỗ dựa tinh thần vững chắc cho cán bộ, chiến sĩ và bà con trong vùng. Bà nuôi giấu cán bộ, tiếp tế lương thực, động viên tinh thần du kích giữa những đợt càn quét ác liệt. Với nhiều người, bà không chỉ là một cơ sở cách mạng, mà là một người mẹ chung, âm thầm giữ lửa cho phong trào kháng chiến địa phương.

Bà không chỉ góp công bằng lao động, mà còn bằng tinh thần cổ vũ, động viên. Đối với bà con trong xóm, bà là chỗ dựa tinh thần vững chắc. Đối với cán bộ, chiến sĩ, bà là người mẹ chung, sẵn sàng sẻ chia từ bát cơm đến tấm lòng.

Người ta gọi bà bằng nhiều cái tên thân thương: Má Tám Trầu, Mẹ Đất Thép, Bà mẹ Dũng sĩ. Những cái tên ấy không phải do phong trào đặt ra, mà xuất phát từ sự kính trọng tự nhiên của nhân dân đối với một con người đã hi sinh gần như tất cả cho cách mạng.

Ở bà Nguyễn Thị Rành, người ta không thấy sự bi lụy, than trách số phận. Trái lại, bà luôn nhắc nhở mọi người giữ vững niềm tin vào ngày thắng lợi. Chính thái độ sống ấy đã giúp tinh thần kháng chiến ở địa phương không bị suy sụp dù phải đối mặt với bom đạn và mất mát liên miên.

Sau ngày đất nước dần đi đến thắng lợi, những cống hiến và hi sinh của bà Nguyễn Thị Rành được Đảng và Nhà nước ghi nhận. Năm 1978, bà được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân – một vinh dự lớn lao, không chỉ dành cho cá nhân bà, mà còn đại diện cho hàng ngàn bà mẹ miền Nam kiên cường trong chiến tranh.

Năm 1979, bà qua đời, khép lại một cuộc đời nhiều đau thương nhưng vô cùng cao cả. Năm 1994, Nhà nước truy tặng bà danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Danh hiệu ấy mang ý nghĩa thiêng liêng: đó là sự tri ân chính thức của dân tộc đối với một người mẹ đã hiến dâng con cháu, tuổi xuân và cả cuộc đời mình cho độc lập, tự do của Tổ quốc.

Ngày nay, hình ảnh bà Nguyễn Thị Rành được lưu giữ tại các bảo tàng, trong các bài viết lịch sử, và quan trọng hơn cả là trong ký ức cộng đồng. Bà không chỉ là một nhân vật lịch sử, mà là một nhân chứng sống, phản ánh chân thực sự tàn khốc của chiến tranh và sức mạnh tinh thần phi thường của con người Việt Nam.

Nhìn lại toàn bộ cuộc đời bà Nguyễn Thị Rành, có thể thấy đó là một đời người gắn chặt với lịch sử dân tộc, nơi số phận cá nhân hòa tan vào vận mệnh chung của đất nước. Bà không chọn trở thành anh hùng theo nghĩa thông thường, nhưng chính hoàn cảnh và lựa chọn sống của bà đã đưa bà trở thành biểu tượng.

4. Ký ức còn mãi – sự tưởng niệm và ý nghĩa của một cuộc đời bất tử.

Bà là người mẹ mất con, là người phụ nữ chịu đựng tra tấn, là cơ sở cách mạng âm thầm, và cuối cùng là một nhân chứng lịch sử sống động. Cuộc đời bà không cần tô đậm bằng những mỹ từ, bởi bản thân nó đã đủ sức nặng để đứng vững trong ký ức dân tộc.

Khi nhắc đến bà Nguyễn Thị Rành hôm nay, điều quan trọng không chỉ là nhắc lại những danh hiệu hay con số hi sinh, mà là giữ cho câu chuyện ấy được kể đúng, đủ và liền mạch, để lịch sử không bị rời rạc, để nỗi đau không bị làm mờ, và để những hi sinh thầm lặng tiếp tục soi sáng giá trị của hòa bình mà chúng ta đang có.

Khi chiến tranh lùi xa và những nhân chứng sống dần đi vào lịch sử, câu chuyện về bà Nguyễn Thị Rành không khép lại cùng thời gian, mà được tiếp nối trong ký ức cộng đồng và trong những không gian tưởng niệm cụ thể

Bởi vậy, khi nói đến sự tưởng niệm đối với bà Nguyễn Thị Rành, điều hiện lên trước hết không phải là những mỹ từ, mà là một không gian cụ thể, nơi ký ức được giữ lại một cách lặng lẽ và bền bỉ. Ở Củ Chi, nhà tưởng niệm bà không mang dáng dấp của một công trình hoành tráng, mà là một nơi chốn giản dị, đủ để người đến dừng chân, đọc lại câu chuyện về một người mẹ đã đi trọn đời mình cùng lịch sử.

Nhà tưởng niệm má Rành ở Phước Hiệp, Củ Chi

“Gia tài” của má: cái ky xúc đất đào địa đạo và cái cối giã trầu

Từ góc độ lịch sử, bà Nguyễn Thị Rành là một nhân chứng sống, phản ánh đầy đủ bản chất của chiến tranh nhân dân: nơi mỗi gia đình đều có thể trở thành hậu phương, và mỗi người mẹ đều có thể trở thành điểm tựa tinh thần cho cả một vùng kháng chiến. Từ góc độ xã hội, bà là hình ảnh tiêu biểu của người phụ nữ Việt Nam trong chiến tranh – chịu đựng, kiên cường và không đòi hỏi được ghi công.

Ngày 6-11-1978, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký quyết định tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho đồng chí Nguyễn Thị Rành, vì đã “làm được nhiều thành tích đặc biệt xuất sắc về chiến đấu và phục vụ chiến đấu, góp phần cùng toàn dân đưa sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn”. Ngày 26-1-1979, má Tám Rành qua đời. Năm 1983, vợ chồng má được truy tặng Huân chương Độc lập hạng Nhất. Đến năm 1994, má Rành được Nhà nước truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng, vì có 8 người con và 2 cháu nội, ngoại hy sinh cho Tổ quốc. Để ghi nhớ công ơn của “Bà mẹ Đất thép”, Ủy ban nhân dân Thành phố quyết định chọn con đường đẹp nhất Củ Chi mang tên Nguyễn Thị Rành. Đường dài gần 20km, từ ngã rẽ quốc lộ 22 thuộc ấp Bàu Đưng, xã Tân An Hội, kéo qua Trung Lập Hạ, Nhuận Đức, An Nhơn Tây và kết thúc tại điểm đầu tỉnh lộ 8, xã Phú Mỹ Hưng. Trên con đường này, có một trạm y tế mang tên má Tám.

Đoàn cán bộ Phụ nữ Quân đội thăm khu tưởng niệm má Nguyễn Thị Rành (tháng 7-2014)

Đại hội đại biểu Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh ra nghị quyết chọn công trình Nhà tưởng niệm Bà mẹ Việt Nam anh hùng - Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Thị Rành là một trong sáu công trình trọng điểm của nhiệm kỳ 2011-2016. Công trình được khởi công từ tháng 7-2012 và khánh thành cuối tháng 1-2013 trên nền nhà cũ của má. Giai đoạn 2 mở rộng được hoàn thành vào tháng 10-2016, với tổng diện tích 5.609 m2. Kinh phí xây dựng do cán bộ, hội viên Hội Liên hiệp Phụ nữ 24 quận, huyện, các đơn vị và mạnh thường quân đóng góp. Bên trong nhà có phù điêu chân dung má Tám Rành. Phía trên bàn thờ là ảnh Bác Hồ với câu nói của Người: “Nhân dân ta rất biết ơn các bà mẹ hai miền Nam - Bắc đã sinh đẻ và nuôi dạy những thế hệ anh hùng của nước ta”. Tiếp đến là bài vị thờ chồng má, cùng 8 con trai, 2 cháu liệt sĩ. Phía trước trang thờ, trên hai cột được chạm khắc cặp câu đối: “Trước sau một dạ anh hùng, quê nghèo đất thép; Con cháu mười người Liệt sĩ, tay trắng lòng son”. Gia tài của “Bà mẹ Củ Chi” được lồng trong tủ kính là 5 cái chén đĩa, 1 cây đèn bão, 1 cái cối giã trầu bằng đồng bé tẹo và một xấp dày giấy báo tử… Chỉ vậy thôi, nhưng dân tộc này, đất nước này sẽ trường tồn mãi mãi bởi những người mẹ như má Nguyễn Thị Rành. Mất con nhưng còn nước! Đức hy sinh của má Tám Rành không gì sánh nổi, vâng, có lẽ nó còn hơn cả một tượng đài!

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
NGUYỄN THỊ RÀNH_ BÀ MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG (1) | Câu chuyện thời hoa lửa