Nguyễn Thị Ráo
Sinh năm 1922 tại làng Long Thạnh, tổng Bình Khánh Thượng, quận Càng Long (nay là xã Nhị Long, huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh), Nguyễn Thị Ráo – thường gọi Chính Ráo, bí danh Ba Thi – lớn lên giữa những năm tháng quê hương sôi sục tinh thần yêu nước.
Khi mới 18 tuổi, bà đã được Chi bộ Nhị Long giác ngộ cách mạng, tham gia làm liên lạc cho Huyện ủy Càng Long trong phong trào chuẩn bị khởi nghĩa Nam Kỳ năm 1940. Dưới vỏ bọc một người buôn gạo, bà len lỏi khắp các vùng nông thôn – thành thị, đưa tin, chuyển tài liệu, tiếp tế cho cơ sở cách mạng.
Năm 1943, bà được giao làm Tổ trưởng Nông hội Đỏ xã Nhị Long, rồi năm 1945, khi cao trào Cách mạng Tháng Tám lan khắp Nam Bộ, bà được Huyện ủy điều động về công tác hợp pháp tại huyện lỵ, vận động quần chúng nổi dậy giành chính quyền.
Ngày 20/9/1945, bà vinh dự đứng vào hàng ngũ của Đảng Cộng sản Đông Dương, trở thành một trong những nữ đảng viên đầu tiên của huyện Càng Long.
Sau đó, bà giữ chức Huyện ủy viên phụ trách Dân vận, Bí thư Đảng đoàn, Đoàn trưởng Đoàn Phụ nữ Cứu quốc huyện Càng Long – góp phần tổ chức, động viên phụ nữ tham gia kháng chiến, nuôi giấu cán bộ, hậu cần tiền tuyến.
Tháng 4/1948, bà được Tỉnh ủy Trà Vinh điều động giữ chức Đoàn phó Đoàn Phụ nữ Cứu quốc tỉnh, kiêm Bí thư Đảng đoàn Phụ nữ tỉnh; đến năm 1950, bà trở thành Trưởng Đoàn Phụ nữ Cứu quốc tỉnh Trà Vinh.
Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ (1954), bà ở lại miền Nam tiếp tục hoạt động bí mật tại Sài Gòn – Gia Định, bám trụ trong lòng địch để duy trì phong trào.
Bà từng là Ủy viên Đảng đoàn Hội Phụ nữ Cứu quốc Gia Định, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Hội Phụ nữ Giải phóng Miền Nam Việt Nam, và là thành viên Ban Thường trực Trung ương Hội.
Trong chiến tranh, bà từng tham gia đoàn anh hùng – dũng sĩ miền Nam ra thăm Bác Hồ năm 1969, để lại bức ảnh lịch sử quý giá.
Năm 1953, bà lập gia đình với ông Nguyễn Trọng Tuyển (quê Hưng Yên, sau là Bí thư Tỉnh ủy Gia Định, hy sinh năm 1959 tại Tây Ninh). Sự mất mát ấy càng khiến bà thêm kiên định với lý tưởng mà hai người cùng theo đuổi.
Sau ngày đất nước thống nhất (1975), bà được điều động ra công tác tại Sở Lương thực TP. Hồ Chí Minh, rồi giữ chức Giám đốc Công ty Lương thực Thành phố.
Đó là giai đoạn đầy gian khó: dân số tăng nhanh, nguồn cung lương thực khan hiếm, hàng triệu người lâm vào cảnh thiếu ăn.
Cựu Phó Thủ tướng Trần Phương từng viết: “Nhiệm vụ nặng nề nhất khi ấy là chạy gạo cho dân”. Và trong đội ngũ “chạy gạo” ấy, bà Ba Thi là người tiên phong dám nghĩ, dám làm, dám “xé rào” để cứu dân thành phố khỏi nạn đói.
TP.HCM lúc đó có hơn 4 triệu dân, nhưng kho dự trữ gạo chỉ đủ cho vài tuần, thậm chí vài ngày. Nhiều gia đình phải ăn độn khoai, bo bo, hạt bắp. Trẻ em ăn bo bo đến chảy máu lợi – câu chuyện mà những người từng sống qua giai đoạn ấy không thể quên.
Trong cảnh khan hiếm ấy, bà Ba Thi đã mạnh dạn đề xuất và tổ chức chương trình “đổi hàng lấy gạo”, vận động các tỉnh miền Tây cung cấp lúa gạo cho TP.HCM, đồng thời đưa hàng hóa thành phố hỗ trợ ngược lại đồng bằng.
Cách làm này “xé rào” với cơ chế tập trung bao cấp lúc bấy giờ, nhưng đem lại hiệu quả thiết thực – hàng triệu người dân thành phố có gạo ăn, đời sống dần ổn định.
Chính nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã xúc động nói:
“Dì Ba Thi là người lính đi đầu trong đổi mới, dám nghĩ dám làm những việc có lợi cho dân, cho nước. Dì tháo gỡ khó khăn khi mọi người còn lúng túng, góp phần chăm lo miếng ăn cho dân TP.HCM và mở đường cho tư duy đổi mới sau này.”



