NGUYỄN THỊ RẨY – CÔ GÁI VÁ ĐƯỜNG TRONG ĐÊM Ở “CHẢO LỬA” KHE SANH
ăm 18 tuổi, khi nhiều bạn bè cùng trang lứa còn ngồi trên ghế nhà trường, bà Nguyễn Thị Rẩy rời quê Thanh Hóa, tình nguyện gia nhập lực lượng thanh niên xung phong. Ba năm từ 1968 đến 1971, tuổi thanh xuân của bà gắn với Đường 9 – Khe Sanh (Quảng Trị), nơi những nam, nữ thanh niên xung phong ngày đêm mở đường, san lấp hố bom, bảo đảm giao thông để những đoàn xe chở bộ đội, vũ khí, lương thực tiếp tục vào chiến trường miền Nam.

18 tuổi tình nguyện vào tuyến lửa
Bà Nguyễn Thị Rẩy sinh ra tại Thanh Hóa trong một gia đình có truyền thống tham gia kháng chiến. Cha bà từng là dân quân, làm nhiệm vụ vận chuyển gạo phục vụ chiến trường Điện Biên Phủ; em trai đi bộ đội, chị gái cũng tham gia thanh niên xung phong tại Hà Tĩnh, Nghệ An. Mẹ bà ở lại quê nhà lao động sản xuất, chăm sóc ruộng đồng và dành phần lương thực còn lại sau khi bảo đảm cuộc sống gia đình để đóng góp cho cách mạng.
Năm 1968, khi vừa 18 tuổi, Nguyễn Thị Rẩy đăng ký tham gia thanh niên xung phong. Sau khoảng nửa tháng đi bộ, bà cùng đơn vị đến Đường 9 – Khe Sanh.
Đây là tuyến giao thông có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng, nối từ khu vực Quảng Trị sang Lào, liên kết với hệ thống đường Trường Sơn, phục vụ vận chuyển lực lượng và hàng hóa từ miền Bắc vào miền Nam. Vì vậy, Đường 9 trở thành một trong những trọng điểm bị đối phương tập trung đánh phá.
Khe Sanh khi ấy được ví như một “chảo lửa”. Bom đạn liên tục trút xuống các tuyến đường, căn cứ và khu vực xung quanh nhằm ngăn chặn hoạt động vận chuyển của quân ta.
Giữa chiến trường ấy, Nguyễn Thị Rẩy cùng hàng trăm thanh niên xung phong nhận nhiệm vụ giữ cho tuyến đường luôn thông suốt.
Địch phá ban ngày, thanh niên xung phong vá đường trong đêm
Đơn vị của bà Rẩy có khoảng 300 người, trong đó hơn 200 người là nữ, đóng quân bí mật trong rừng, cách Đường 9 – Khe Sanh khoảng 4 km.
Cuộc sống giữa chiến trường hết sức thiếu thốn. Ngoài nguồn lương thực được tiếp tế từ miền Bắc, đơn vị phải tự trồng rau, chăn nuôi để cải thiện bữa ăn. Trong hoàn cảnh khó khăn, các thanh niên xung phong vẫn chia sẻ lương thực với đồng bào dân tộc trong khu vực khi nương rẫy bị bom đạn tàn phá.
Dù nơi đóng quân được ngụy trang, nguy hiểm vẫn thường xuyên cận kề. Có lần, từ một làn khói bếp, máy bay đối phương phát hiện dấu hiệu và ném bom trúng khu vực nhà bếp của đơn vị. May mắn thời điểm đó không phải giờ ăn nên không có thiệt hại về người.
Trên Đường 9, những trận đánh phá liên tục tạo ra các hố bom lớn, làm mặt đường bị chia cắt. Hai bên đường, nhiều khu vực rừng bị rải chất độc, cây cối trơ trụi khiến hoạt động của lực lượng ta càng dễ bị phát hiện từ trên không.
Do máy bay thường xuyên trinh sát, việc sửa chữa đường không thể thực hiện vào ban ngày.
Khi trời tối, Nguyễn Thị Rẩy cùng đồng đội mới từ nơi trú quân băng rừng ra Đường 9. Cuốc, xẻng và đá được mang theo để san lấp những đoạn đường vừa bị đánh phá.
Có những bao đá phải hai người cùng khiêng. Hố bom vừa được lấp xong, ngày hôm sau có thể lại bị đánh phá và những người thanh niên xung phong lại tiếp tục sửa chữa.
Công việc cứ lặp lại: địch phá đường, thanh niên xung phong mở lại đường, với mục tiêu cao nhất là không để tuyến vận tải vào chiến trường bị gián đoạn.
Đồng đội hy sinh khi lấy đá vá đường
Nguy hiểm đối với những người làm nhiệm vụ không chỉ đến từ bom đạn.
Để có đủ đá san lấp mặt đường, đơn vị phải khai thác đá tại khu vực núi. Những tảng đá lớn được phá bằng mìn, sau đó tiếp tục đập nhỏ để đưa ra mặt đường.
Trong một lần thực hiện nhiệm vụ, đá từ trên núi lăn xuống sai hướng. Hai thanh niên xung phong không kịp tránh và hy sinh.
Sự mất mát của đồng đội ngay trong quá trình mở đường là một trong những ký ức bà Rẩy còn nhớ rõ sau hơn nửa thế kỷ. Nhưng những người còn lại vẫn tiếp tục nhiệm vụ.
Đường bị phá lại được sửa.
Hố bom tiếp tục được san lấp.
Nhờ đó, những đoàn xe chở bộ đội, vũ khí, lương thực và thuốc men vẫn có thể vượt qua Đường 9, tiếp tục hành trình vào chiến trường miền Nam.
Ba năm tuổi trẻ ở Khe Sanh
Từ năm 1968 đến 1971, Nguyễn Thị Rẩy gắn bó với nhiệm vụ mở đường tại chiến trường Đường 9 – Khe Sanh.
Năm 1971, bà được đơn vị cho trở về quê an dưỡng. Khi ấy, bà mới nghĩ đến chuyện lập gia đình.
Người bà kết hôn là bạn học từ năm lớp 9, cũng quê Thanh Hóa. Hai người từng có tình cảm nhưng đều gác lại chuyện riêng để thực hiện nhiệm vụ trong chiến tranh.
Cuộc đoàn tụ cũng rất ngắn ngủi. Sau đám cưới một ngày, chồng bà tiếp tục lên đường vào chiến trường B. Từ đó cho đến ngày đất nước thống nhất 30/4/1975, hai người không nhận được tin tức của nhau.
Phải đến năm 1976, bà mới nhận được lá thư cùng vài khúc vải chồng gửi về. Sau này, bà vào Cần Thơ đoàn tụ với chồng và sinh sống tại đây.
Hơn nửa thế kỷ sau những năm tháng ở Khe Sanh, bà Nguyễn Thị Rẩy vẫn nhớ rõ ba năm tuổi trẻ của mình trên tuyến lửa.
Câu chuyện của bà cũng là câu chuyện chung của hàng vạn thanh niên xung phong trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Họ không trực tiếp chiến đấu trên trận địa nhưng có mặt tại những nơi bị đánh phá ác liệt nhất, làm nhiệm vụ mở đường, tải đạn, vận chuyển hàng hóa, bảo đảm giao thông và phục vụ chiến trường.
Trong số đó có rất nhiều cô gái mới mười tám, đôi mươi như Nguyễn Thị Rẩy.



