Nguyễn Thị Thanh — “bông hồng thép” của điệp báo Quảng Đà
Tháng 9-1966, Nguyễn Thị Thanh rời Duy Xuyên vào Đà Nẵng hoạt động khi mới 16 tuổi, gây dựng cơ sở, vận chuyển vũ khí và theo dõi các đầu mối tình báo trong chiến dịch Phượng Hoàng.
Đầu năm 2025, trong cuộc gặp của những nữ chiến sĩ điệp báo Quảng Đà, Nguyễn Thị Thanh xuất hiện với vóc dáng nhỏ nhắn và giọng kể bình thản. Khó hình dung người phụ nữ ấy từng bước vào Đà Nẵng năm 16 tuổi, mang nhiệm vụ gây dựng cơ sở, chuyển vũ khí và theo dõi những cán bộ tình báo của đối phương. Đồng đội gọi bà là “bông hồng thép”, nhưng biệt danh không nói hết tính chất công việc. Một điệp báo viên sống trong đô thị phải tạo được lý lịch, quan hệ và thói quen đủ tự nhiên để hàng xóm, cảnh sát và người làm cùng không nhận ra những chuyến đi thật sự nhằm mục đích gì.
Nguyễn Thị Thanh sinh năm 1950 tại làng Thanh Châu, xã Xuyên Thanh, nay là xã Duy Châu, huyện Duy Xuyên, Quảng Nam. Bà học hết tiểu học, có nước da trắng, nhanh nhẹn và khả năng hòa nhập. Các cán bộ an ninh Nguyễn Văn Cam cùng Ngô Thị Huệ, người phụ trách giao thông liên lạc của điệp báo Quảng Đà, tuyên truyền và xin gia đình cho cô gái tham gia. Tháng 9-1966, Thanh từ biệt quê, vào Đà Nẵng. Quyết định ấy đồng nghĩa rời môi trường quen thuộc để sống giữa thành phố có dày đặc cơ quan quân sự, cảnh sát và mạng lưới chỉ điểm.
Nhiệm vụ đầu tiên là gây cơ sở: tìm người có cảm tình, đánh giá mức độ tin cậy và từng bước giao việc. Không thể hỏi trực tiếp hay tỏ thái độ quá sớm. Thanh quan sát cách người ta nói về chiến tranh, mối quan hệ gia đình, nơi làm việc và nguy cơ bị theo dõi. Một cơ sở an toàn có thể cho chỗ cất tài liệu, đưa tin hoặc làm nơi chuyển vũ khí. Nhưng nếu lựa chọn sai, không chỉ người điệp báo bị bắt mà cả những đầu mối trước đó cũng có thể bị lần ra. Vì thế, sự lanh lẹ của cô gái 16 tuổi phải đi cùng kỷ luật không kể quá phần cần thiết.
Sau Tết Mậu Thân 1968, chương trình Phượng Hoàng tăng cường bắt bớ, chiêu hàng và truy diệt cơ sở cách mạng. Ban An ninh Quảng Đà phát hiện một đầu sỏ tình báo đóng vai trò nguy hiểm, giao Nguyễn Thị Thanh cùng đồng đội theo dõi để xây dựng phương án trừ khử. Họ rà quy luật đi lại, giờ làm việc, nơi ở và lực lượng bảo vệ. Điều tra kéo dài nhằm tìm khoảng thời gian mục tiêu sơ hở nhưng hạn chế ảnh hưởng tới dân. Mỗi lần bám theo phải thay trang phục, đường đi và giữ khoảng cách để không xuất hiện lặp lại trong tầm mắt đối tượng.
Sau khi hình thành phương án, tổ không tự ý hành động mà trở về căn cứ báo cáo, xin lệnh cấp trên. Chi tiết ấy thể hiện nguyên tắc của hoạt động vũ trang nội đô: quyết đoán không đồng nghĩa tùy tiện. Một cuộc tiến công có thể gây tác động chính trị lớn, nên phải xác minh đúng người, chọn thời điểm và chuẩn bị đường rút. Nguyễn Thị Thanh còn đảm nhiệm vận chuyển vũ khí, loại nhiệm vụ mà chỉ một cuộc khám xét bất ngờ có thể biến mọi vỏ bọc thành vô nghĩa. Vũ khí phải được tháo, giấu trong đồ dùng phù hợp và chuyển qua nhiều chặng thay vì một người ôm trọn tuyến.
Trong quá trình hoạt động, bà trải qua nguy cơ bắt giữ, tra khảo và sự mất mát của đồng đội. Những nữ điệp báo ít có cơ hội công khai nhận nhau; gặp ngoài đường đôi khi phải coi như người xa lạ. Tình đồng đội được thể hiện bằng việc đến đúng giờ, không kéo người bám theo tới điểm hẹn và sẵn sàng cắt liên lạc khi thấy bất thường. Sau này Nguyễn Thị Thanh kết hôn với ông Lý Văn Công, một cựu tù Phú Quốc và cán bộ tổ chức ở quận Hải Châu. Hai người xây dựng gia đình từ những trải nghiệm mà nhiều năm không thể kể công khai.
Câu chuyện của Nguyễn Thị Thanh giúp nhìn rõ vai trò của phụ nữ trẻ trong mạng lưới an ninh Quảng Đà. Họ không chỉ mang thư mà còn phân tích đối tượng, xây cơ sở và tham gia phương án vũ trang. Mốc tháng 9-1966, tuổi 16 và bối cảnh chương trình Phượng Hoàng sau 1968 đặt sự can đảm vào không gian cụ thể. Một cô gái mới học hết tiểu học đã phải học cấp tốc những kỹ năng về tâm lý, quan sát và bảo mật mà sai một lần có thể trả giá bằng cả mạng lưới.
Khi gặp lại đồng đội sau hơn nửa thế kỷ, “bông hồng thép” không kể mình như nhân vật huyền thoại. Bà nhắc tên những cán bộ đã dìu dắt, cơ sở đã che chở và người cùng tổ. Cách nhớ ấy phản ánh đúng bản chất điệp báo: chiến công không thuộc riêng người trực tiếp cầm vũ khí, mà là kết quả của rất nhiều người giữ kín một mẩu thông tin. Nguyễn Thị Thanh sống được đến ngày hòa bình để kể lại, còn giá trị lớn nhất của câu chuyện là trả lại hình hài cho một mạng lưới từng phải tồn tại trong vô danh.



