Mẹ Việt Nam Anh hùng

Nguyễn Thị Thập – Người con ưu tú của Nam Bộ thành đồng - KHXH

Lịch sử dân tộc Việt Nam ghi dấu những thời kì đấu tranh vô cùng gian khổ, khi mỗi miền quê, mỗi tấc đất đều thấm đẫm mồ hôi, nước mắt và xương máu của các thế hệ cha ông. Nhưng cũng chính trong hoàn cảnh đau thương, khốc liệt ấy thì bản lĩnh, ý chí và khát vọng độc lập của con người Việt Nam lại rực cháy và tỏa sáng mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Những năm tháng lịch sử đó chính là “Thời hoa lửa” hào hùng của dân tộc Việt Nam. Hình ảnh của người phụ nữ trong thời kì ấy không chỉ hiện lên với sự đảm đ

Đồng Tháp02/06/2026Khoa Sư phạm Khoa học xã hội (Đoàn Trường Đại học Đồng Tháp)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Nguyễn Thị Thập – Người con ưu tú của Nam Bộ thành đồng

Lịch sử dân tộc Việt Nam ghi dấu những thời kì đấu tranh vô cùng gian khổ, khi mỗi miền quê, mỗi tấc đất đều thấm đẫm mồ hôi, nước mắt và xương máu của các thế hệ cha ông. Nhưng cũng chính trong hoàn cảnh đau thương, khốc liệt ấy thì bản lĩnh, ý chí và khát vọng độc lập của con người Việt Nam lại rực cháy và tỏa sáng mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Những năm tháng lịch sử đó chính là “Thời hoa lửa” hào hùng của dân tộc Việt Nam. Hình ảnh của người phụ nữ trong thời kì ấy không chỉ hiện lên với sự đảm đang nơi hậu phương, mà còn hiện lên như những chiến sĩ kiên trung, bất khuất góp phần quan trọng vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Và hôm nay, tôi sẽ kể cho các bạn nghe về cuộc đời của đồng chí Nguyễn Thị Thập – người con ưu tú của vùng đất Nam Bộ đã cống hiến cả đời cho cách mạng, trở thành một biểu tượng sáng ngời của phụ nữ Việt Nam.

Nguyễn Thị Thập (tên khai sinh là Nguyễn Thị Ngọc Tốt), sinh năm 1908 trong một gia đình nông dân nghèo ở làng Long Hưng, huyện Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho ( nay là xã Long Hưng, tỉnh Đồng Tháp). Sớm chứng kiến nỗi thống khổ của nhân dân dưới ách áp bức của thực dân phong kiến. Chính nỗi đau mất nước đã hun đúc trong bà một ý chí sắt đá, quyết tâm giải phóng dân tộc. Ở tuổi đôi mươi, bà đã sớm giác ngộ lý tưởng cách mạng, tích cực tham gia hoạt động phong trào tại địa phương. Năm 1928, bà tham gia Nông hội Đỏ tại địa phương, với nhiệm vụ thông tin liên lạc. Ba năm sau, bà thoát ly gia đình, lên Sài Gòn hoạt động cách mạng, thâm nhập cuộc sống công nhân, thợ thuyền, những người lao động nghèo khổ để tuyên truyền giác ngộ và xây dựng cơ sở cách mạng ở thành phố Sài Gòn và các tỉnh: Mỹ Tho, Tân An, Bến Tre. Bà được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương (năm 1931). Từ đây, bà lấy bí danh là Mười Thập.

Tháng 4 năm 1935, đồng chí được bầu vào Xứ ủy Nam Kỳ. Sau đó không lâu, bà bị thực dân Pháp bắt giam tại Khám Lớn Sài Gòn. Trong những năm 1935 – 1936, Mặt trận Bình dân Pháp lên nắm chính quyền, chế độ dân chủ được mở rộng và nới lỏng cho các nước thuộc địa, bà và một số tù nhân chính trị chưa thành án được trả tự do. Ra khỏi nhà tù thực dân, đồng chí tiếp tục hoạt động cách mạng, tham gia Ban lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, tham gia lãnh đạo giành chính quyền tại tỉnh Mỹ Tho.

Ở Mỹ Tho, bà cùng với anh ruột là Nguyễn Văn Cảnh (Tám Cảnh) và ông Lê Văn Giác (Tỉnh ủy viên tỉnh Mỹ Tho, sau trở thành chồng bà) thường xuyên tập hợp anh chị em thanh niên trong xã Long Hưng tuyên truyền lý tưởng cách mạng, vạch tội ác thực dân Pháp và bọn cường hào ác bá, nhằm xây dựng, phát triển lực lượng cách mạng. Xã Long Hưng trở thành nơi lực lượng cách mạng phát triển mạnh nhất của tỉnh Mỹ Tho.

Năm 1937, bà lãnh đạo nhân dân xã Long Hưng đấu tranh chống thuế thân và bị chúng bắt giam 6 tháng tại khám đường Mỹ Tho. Ra tù, bà tiếp tục công tác vận động quần chúng, củng cố và phát triển cơ sở. Cũng trong năm này, ông Lê Văn Giác được thả khỏi nhà tù Côn Đảo, hai người kết hôn, sau đó không lâu ông Lê Văn Giác bị địch bắt trở lại và đày biệt xứ ở Bạc Liêu.

Năm 1940, địch ra sức khủng bố, nhân dân đòi bạo động đánh lại quân Pháp. Tỉnh ủy Mỹ Tho quyết định lấy rừng Ba U làm căn cứ, tổ chức nhiều hội nghị ở nhiều nơi khác nhau trong tỉnh, bàn việc chuẩn bị khởi nghĩa ở Mỹ Tho, thành lập Ủy ban khởi nghĩa. Bà được giao nhiệm vụ phụ trách lực lượng vũ trang của tỉnh. Từ tháng 8 đến tháng 11 năm 1940, bà tích cực tổ chức các địa phương trong tỉnh luyện tập, chuẩn bị cho một cuộc khởi nghĩa lớn.

Trong đêm 22, rạng sáng ngày 23-11-1940, các xã trong tỉnh Mỹ Tho đồng loạt nổi dậy. Du kích, thanh niên, thậm chí người già và phụ nữ tham gia vào đội quân khởi nghĩa làm cuộc “tiến công lên trời”, cờ đỏ sao vàng lần đầu tiên được xuất hiện ở Đình Long Hưng – nơi được chọn làm tổng hành dinh cách mạng của cuộc khởi nghĩa ở Mỹ Tho.

Khi khởi nghĩa nổ ra, với nhiệm vụ được phân công, đồng chí Nguyễn Thị Thập cho liên lạc đến các xã xung quanh truyền lệnh khởi nghĩa và huy động Nhân dân đồng loạt nổi dậy.

Khu vực Tam Hiệp do đồng chí Nguyễn Thị Thập chỉ huy có lực lượng tự vệ khá mạnh. Sau khi tổ chức khởi nghĩa tại làng Thân Cửu Nghĩa, Long An, Ủy ban khởi nghĩa đưa lực lượng tại chỗ đánh trống mõ, đốt khí đá, trương khẩu hiệu, giương cao cờ đỏ sao vàng, cờ đỏ búa liềm kéo đến bao vây đồn chợ Bưng. Lúc đầu, lính trốn trong đồn kháng cự nhưng đến 8 giờ sáng, bọn chúng hoảng hốt bỏ chạy. Quân khởi nghĩa nhanh chống chiếm đồn, bắt 5 tên, thu 6 khẩu súng.

Đánh xong đồn chợ Bưng, lực lượng tự vệ do đồng chí Nguyễn Thị Thập chỉ huy tiến ra Long Định để tiếp ứng lực lượng của đồng chí Nguyễn Văn Tân; nhưng khi đến nơi, trận chiến ở đây đã giải quyết xong, bọn địch rút chạy về Cai Lậy. Cuộc khởi nghĩa thành lập được chính quyền công – nông, tuy là chính quyền tự quản và tồn tại không lâu vì thực dân Pháp trở lại đàn áp khốc liệt, nhưng chính quyền đã thực thi chính sách đại đoàn kết dân tộc, khắc sâu dấu ấn đặc biệt trong ký ức của người dân Mỹ Tho và hình ảnh chị Mười Thập bụng mang dạ chửa gần ngày sinh nở, vẫn thắt khăn nịt bụng, chỉ huy lực lượng vũ trang xông vào chiếm đồn bốt, trương biểu ngữ, trương cờ khiến kẻ địch khiếp sợ.

Về sau, cuộc khởi nghĩa Nam kỳ trước thế đàn áp của quân Pháp, chồng bà, ông Lê Văn Giác một lần nữa bị địch bắt và bị xử tử hình. Nén đau thương, bà trở lại quê nhà Long Hưng – cái nôi của cuộc khởi nghĩa – để gầy dựng lại cơ sở cách mạng và tiếp tục xây dựng cơ sở quần chúng ở các tỉnh miền Tây Nam bộ. Cuối năm 1944, bà đã cùng với nhiều cán bộ trong tỉnh Mỹ Tho và các tỉnh bạn xúc tiến việc khôi phục lại Tỉnh ủy Mỹ Tho và Xứ ủy Nam kỳ.

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, đồng chí Nguyễn Thị Thập được giao đảm nhiệm nhiều cương vị quan trọng: Năm 1946, bà vinh dự được bầu là Đại biểu Quốc hội khóa I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (là một trong 10 nữ Đại biểu Quốc hội khóa I); là Hội trưởng Hội Phụ nữ cứu quốc Nam bộ (1947-1952), là Hội trưởng (nay là Chủ tịch) Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Bí thư Đảng đoàn Phụ nữ kiêm Trưởng Ban Phụ vận Trung ương (1955-1974).

Bà là người giữ kỷ lục về thâm niên người đứng đầu Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam với 18 năm liên tục, cũng là người phụ nữ duy nhất có 33 năm liên tục là Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (1955-1988). Là Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa II (1960-1964) và 17 năm liên tục ở cương vị Phó Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội (1964-1981).

Trên cương vị là người đại biểu nhân dân, bà đã có những đóng góp quan trọng cho sự ra đời của Luật Hôn nhân và Gia đình (ban hành ngày 13/01/1960) và nhiều chính sách khác bảo vệ quyền lợi của phụ nữ. Đặc biệt là phong trào phụ nữ “Năm tốt” và phong trào “Ba đảm đang” có sức lôi cuốn toàn thể phụ nữ từ thành thị đến nông thôn hăng hái tham gia.

Đồng chí Nguyễn Thị Thập chính là hiện thân rực rỡ nhất cho tám chữ vàng 'Anh hùng, Bất khuất, Trung hậu, Đảm đang'. Cả cuộc đời bà là một hành trình tận hiến không ngơi nghỉ cho ngọn lửa cách mạng và sự nghiệp giải phóng phụ nữ. Bà đã dành trọn cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng và sự nghiệp giải phóng phụ nữ. Với những đóng góp vĩ đại ấy, bã đã được Nhà nước trao tặng Huân chương Sao vàng - Huân chương cao quý nhất của Nhà nước Việt Nam, danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng và nhiều phần thưởng cao quý khác.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn