Người có công giúp đỡ cách mạng

Nguyễn Thị Thứ (3)

Nguyễn Thị Thứ

Thái Nguyên24/05/2026Nguyễn Minh Anh (Trường Đại học Y Dược)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Mẹ Nguyễn Thị Thứ - Biểu tượng hy sinh bất tử của Mẹ Việt Nam Anh hùng

Mẹ VNAH Nguyễn Thị Thứ (SN 1904, theo giấy căn cước chế độ cũ mẹ SN 1902) tại xóm Rừng (thôn Thanh Quýt, xã Điện Thắng Trung, huyện Điện Bàn, Quảng Nam); mất ngày 10-12-2010 tại TP.Đà Nẵng, đại thọ 106 tuổi.

Sinh ra và lớn lên giữa miền Trung nắng gió, mẹ Nguyễn Thị Thứ sớm thấm thía thế nào là nỗi cơ cực của một đời lam lũ. Mười tám tuổi, mẹ nên duyên với ông Lê Tự Trị, một người nông dân hiền hậu, chất phác. Mười hai lần vượt cạn là mười hai lần mẹ đón lấy niềm vui xen lẫn nỗi lo canh cánh vì cái nghèo đeo bám. Thế rồi, khi thực dân Pháp tái xâm lược, khói lửa chiến tranh kéo về từng làng quê, ông Trị và các con trai lần lượt gia nhập du kích. Trước hiên nhà lợp rơm xứ Quảng, mẹ nhẹ tay buộc dải khăn đỏ lên vai con, không khóc, chỉ dặn: “Còn nước mình thì còn nhà mình.” Từ đó, từng đứa con lần lượt ra đi và không trở lại.

Mẹ Thứ có 12 người con (11 trai và 1 gái) thì 9 con trai hy sinh. Trong chống Pháp và Mỹ, mẹ Thứ lần lượt nhận 9 giấy báo tử của 9 con trai và nhận tin con rể cùng 2 cháu ngoại hy sinh.

Ngày 18-6-1948, anh Lê Tự Xuyến - chiến sĩ giao liên bị Pháp bắn tại đầu làng. Nửa tháng sau, ngày 5-10-1948, con trai Lê Tự Hàn Anh hy sinh khi làm nhiệm vụ tải thương. 10 ngày sau, con trai Lê Tự Hàn Em ngã xuống trong trận chống càn. Con trai Lê Tự Lem tròn 20 tuổi hy sinh trong lúc chiến đấu ở huyện nhà vào tháng 4-1954. Trong vòng 6 năm, mẹ Thứ mất 5 người con, đau thương dồn dập nhưng cứ khi con trưởng thành, mẹ lại động viên, tiễn con ra chiến trường. Tháng 9-1966, con trai Lê Tự Nự hy sinh. Năm 1972, anh Lê Tự Mười và anh Lê Tự Trịnh hy sinh. Năm 1974, anh Lê Tự Thịnh - Ðại đội trưởng bộ đội ở huyện Duy Xuyên hy sinh trong lần chỉ huy đơn vị đánh đồn giặc. Con trai cả Lê Tự Chuyển - chiến sĩ biệt động Sài Gòn hy sinh vào 9 giờ ngày 30-4-1975 ngay trên cầu Rạch Chiếc ở cửa ngõ vào Sài Gòn, chỉ trước vài giờ đất nước thống nhất.

Con rể của mẹ là Ngô Tường (chồng của mẹ VNAH Lê Thị Trị-con cả và là con gái duy nhất của mẹ Thứ) tham gia cách mạng từ thời chống Pháp, bị giặc Mỹ bắt năm 1956, bị tra tấn cho đến lúc tử vong, được công nhận là liệt sĩ. Mẹ Thứ còn 2 cháu ngoại (con gái của mẹ Trị) là Ngô Thị Điểu bị giặc Mỹ bắt tra hỏi, hy sinh tháng 8-1970 và Ngô Thị Cúc hy sinh trong lần công tác vào vùng địch hậu năm 1973.

Không chỉ tiễn con, mẹ còn trực tiếp làm “pháo đài sống” giữa hậu phương. Vườn nhà được mẹ và con gái cả Lê Thị Trị bí mật đào 5 căn hầm sâu, ngụy trang bởi bụi tre và gốc mít. Nơi đó, cán bộ Khu 5 họp bàn tác chiến, thương binh trú ngụ, vũ khí tạm cất giấu trước khi xuất kích. Cựu chiến binh Lê Tự Tân kể: “Tôi chui xuống hầm thấy nồi cơm đồng to như cái nia, khói thơm mùi lúa mới. Mẹ bưng gáo cơm truyền từng tay, hơi ấm ấy xua tan mưa gió Phước Hà”. Địch càn quét, mẹ khoác nón lá, ẵm bó cỏ giả vờ chăn bò để xóa dấu cửa hầm. Đêm đến, bên ngọn đèn dầu tù mù, mẹ khâu vá áo trận, gói cơm nắm, trộn muối rang tiếp tế. Cuối năm 1948, ba khăn tang liên tiếp phủ tóc bạc, song mẹ vẫn viết thư cho đơn vị: “Con ơi, mẹ còn đất, còn lụa chôn nhau, đừng chùn bước”. Lời nhắn ấy đi suốt chiến trường, tiếp sức cho bao quân nhân.

Dù phải nhận từng những đơn tin tử trận của con, nỗi buồn trong mẹ không thể cản bước được ngọn lửa rực cháy giữa thời khắc quan trọng của đất nước. Mẹ Thứ vẫn luôn cố gắng hết mình hỗ trợ các đồng chí, chiến sĩ-những đứa con mà mẹ cũng hết lòng bảo vệ vì đất nước, vì Tổ quốc, vì một tương lai nơi những chiến sĩ ấy gây dựng. Mẹ đã trải qua cuộc chiến khốc liệt và những mất mát đau thương, nhưng cái kết chính là hòa bình, độc lập đất nước.

Đến năm 80 tuổi, mẹ Thứ mù đôi mắt, sống với con gái ở quê nhà sau đó chuyển ra Đà Nẵng sống cùng con út Lê Tự Tân cho đến khi mất ở tuổi 106 vào ngày 10-12-2010.

Tổ quốc không bao giờ quên và luôn biết ơn những người đã hi sinh hết mình vì đất nước và tương lai tự do độc lập. Tháng 7 ‑ 1994, Chủ tịch nước ký quyết định phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng cho mẹ Thứ. Năm 2009, tượng đài Mẹ Việt Nam Anh hùng trên núi Cấm, Tam Kỳ được khởi công, lấy nguyên mẫu gương mặt mẹ; khối đá hoa cương dài 120 m, cao 18,6 m, xác lập kỷ lục ASEAN. Con đường “Mẹ Thứ” ở thị trấn Vĩnh Điện ngày ngày rộn tiếng trẻ tới trường. Ngày 10 ‑ 12 ‑ 2010, mẹ về với đất ở tuổi 106. Lễ tang giản dị, nhưng dòng người từ bác xe ôm đến học sinh, chiến sĩ hải quân về phép chầm chậm tiễn đưa. Khói hương quyện gió, song tinh thần mẹ lan tỏa, len vào nụ cười hòa bình của từng người con xứ Quảng.

Trong dòng chảy hào hùng của dân tộc, cán bộ, giảng viên, học viên, quân nhân tại Học viện Lục quân luôn soi mình vào tấm gương bất tử của mẹ Nguyễn Thị Thứ. Từ bục giảng đến thao trường, từ nghiên cứu khoa học đến rèn luyện thể lực, mỗi người đều thấm nhuần một điều thiêng liêng: sống, học tập, chiến đấu sao cho xứng đáng với máu xương mà mẹ và hàng triệu người mẹ Việt Nam đã hiến dâng. Quân nhân tại Học viện Lục quân hôm nay không chỉ là người cầm súng nơi tuyến đầu, mà còn là chiến sĩ trên mặt trận trí tuệ, làm chủ công nghệ quân sự hiện đại, vũ khí thông minh, trí tuệ nhân tạo. Nhưng trước hết, họ phải rèn cho mình phẩm chất trung thành, chính trực, kỷ luật và nhân ái, như chính mẹ từng sống, từng nuôi quân, từng giữ lửa cho kháng chiến. Học viện Lục quân lấy phương châm “đức - trí - dũng - nhân” làm kim chỉ nam, đào tạo những quân nhân không chỉ giỏi tác chiến mà còn có tâm hồn lớn. Trong mỗi buổi dã ngoại, giữa đêm thao luyện, giảng viên nhắc về mẹ Thứ như ngọn đuốc soi đường: “Một người mẹ nông dân đã nuôi cả sư đoàn, thì các anh càng phải biết nâng niu từng tấc đất quê hương”.

Cuộc đời mẹ Nguyễn Thị Thứ là thiên anh hùng ca khắc bằng máu và nước mắt, soi rọi chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh. Ngọn lửa trong tim mẹ đã đốt cháy mọi sợ hãi, để lại nguồn sáng cửu cho nhân dân. Tri ân mẹ không thể dừng ở cảm xúc nhất thời, mà phải biến thành hành động cụ thể: học tập suốt đời, lao động hăng say, dấn thân khi Tổ quốc gọi tên. Cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên, chiến sĩ Học viện Lục quân hôm nay hiểu rằng tiếp bước mẹ là nhiệm vụ thiêng liêng: ngày ngày rèn luyện bản lĩnh, mài sắc trí tuệ, phát huy nghiên cứu khoa học quân sự, làm chủ công nghệ mới, kiên quyết giữ vững chủ quyền lãnh thổ. Mỗi dòng mã lập trình hệ thống tác chiến mô phỏng, mỗi đường bút trên bản đồ hành quân, mỗi giọt mồ hôi trên sân bắn đều là hạt giống hòa bình. Chiều xuống, đứng trước tượng đài mẹ trên núi Cấm, ta nghe gió biển Trường Sa thổi qua vầng đá hoa cương, như lời mẹ nhắn: “Các con ơi, non sông này đã liền một dải, hãy giữ lấy bình yên, đừng để máu phải rơi thêm lần nữa”. Đó là lời thề bất diệt, là mệnh lệnh mềm mại nhưng hùng hồn, dẫn dắt lớp trẻ dựng xây nước Việt hùng cường, để bầu trời độc lập nở mãi những đoá hoa do mẹ tưới bằng máu và tình yêu vô hạn.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn