Mẹ Việt Nam Anh hùng

Nguyễn Thị Thứ - Biểu tượng hy sinh bất tử và tượng đài vĩ đại của lòng yêu nước

Bà mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Thứ (1904 – 2010), là tượng đài bất tử, biểu tượng vĩ đại cho sự hy sinh vô bờ bến của người phụ nữ Việt Nam trong sự nghiệp giải phóng dân tộc. Với nỗi đau tột cùng khi tiễn đưa 9 người con trai, 2 cháu ngoại và 1 con rể ngã xuống vì độc lập, tự do của Tổ quốc, mẹ đã biến đau thương thành ngọn lửa kiên trung, biến vườn nhà thành pháo đài sống nuôi giấu cán bộ. Cuộc đời 106 tuổi đời của mẹ là một thiên anh hùng ca viết bằng máu và nước mắt, là nguyên mẫu của Tư

TP. Hồ Chí Minh25/06/2026Đoàn Trường Đại học Kinh tế - Luật (Đoàn Trường Đại học Kinh tế - Luật)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Bài viết: Mẹ Nguyễn Thị Thứ – Biểu tượng hy sinh bất tử và mệnh lệnh giữ gìn non sông từ vách đá hoa cương

Hòa bình, độc lập và sự bình yên của dân tộc hôm nay được đổi bằng những mùa xuân không trở lại của hàng triệu người con đất Việt. Trong mạch nguồn thiêng liêng ấy, Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Thứ hiện lên như một tượng đài bất tử của lịch sử: chín người con trai, hai cháu ngoại và một con rể đã ngã xuống, để lại mười hai tấm bằng Tổ quốc ghi công dưới một mái nhà tranh cát trắng xứ Quảng. Dáng hình gầy guộc, lam lũ của mẹ chính là hiện thân của ý chí bền bỉ, lòng yêu nước thầm lặng mà vĩ đại, một di sản tinh thần vô giá luôn nhắc nhở thế hệ trẻ về giá trị của tự do bằng những hành động thiết thực mỗi ngày.

Sinh ra và lớn lên giữa dải đất miền Trung đầy nắng gió, mẹ Nguyễn Thị Thứ sớm thấm thía nỗi cơ cực của một đời lam lũ. Năm mười tám tuổi, mẹ nên duyên cùng ông Lê Tự Trị và trải qua mười hai lần vượt cạn trong cảnh nghèo khó đeo bám. Thế rồi, khi thực dân Pháp tái xâm lược, khói lửa chiến tranh tràn về từng làng quê, chồng và các con trai của mẹ lần lượt gia nhập lực lượng du kích. Trước hiên nhà xứ Quảng, mẹ nhẹ tay buộc dải khăn đỏ lên vai con, không khóc, chỉ dặn một câu sắt son: “Còn nước mình thì còn nhà mình.” Để rồi từ đó, từng đứa con lần lượt ra đi và mãi mãi nằm lại nơi chiến trường. Người con thứ ba Lê Tự Xuyến hy sinh năm 1948; chưa đầy mười ngày sau, người con thứ tư Lê Tự Hàn cũng ngã xuống khi đang tải thương; và ngay trong tháng định mệnh ấy, người con thứ năm Lê Tự Hãn tiếp tục hy sinh trên mặt trận Điện Bàn. Đến năm 1954, người con thứ sáu Lê Tự Lem ngã xuống khi vừa tròn tuổi hai mươi. Những năm chống Mỹ, nỗi đau lại tiếp tục cào xé tâm can mẹ khi người con thứ bảy Lê Tự Nự hy sinh năm 1966, và hai người con Lê Tự Mười, Lê Thượng Trịnh cùng nằm lại trong mùa hè đỏ lửa năm 1972. Đớn đau và nghiệt ngã nhất là trường hợp của người con trai cả Lê Tự Truyện. Mẹ đã khấp khởi chờ anh về khi tiếng súng giải phóng Sài Gòn tiến đến hồi kết, thế nhưng, vào lúc 9 giờ sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, anh đã anh dũng hy sinh ngay tại cửa ngõ nội đô, chỉ vài giờ trước thời khắc giang sơn thu về một mối. không chỉ có các con, con rể của mẹ là ông Ngô Tường cũng bị giặc tra tấn đến kiệt sức rồi qua đời, hai cháu ngoại Ngô Thị Cúc và Ngô Thị Điều cũng lần lượt hy sinh trong mưa bom bão đạn khi tuổi đời còn rất xanh.

Mỗi tờ giấy báo tử như một nhát dao cứa sâu vào khúc ruột, nhưng mẹ Thứ không gục ngã. Mẹ cắn răng chịu đựng, nuốt nước mắt vào trong và âm thầm biến đau thương thành ngọn lửa của lòng tin yêu đất nước. Không chỉ tiễn con ra trận, mẹ còn trực tiếp biến ngôi nhà của mình thành một “pháo đài sống” giữa lòng hậu phương. Vườn nhà được mẹ và người con gái cả Lê Thị Trị bí mật đào ba căn hầm sâu, ngụy trang khéo léo dưới những bụi tre, gốc mít để làm nơi họp bàn của cán bộ Khu 5, nơi thương binh trú ngụ và cất giấu vũ khí. Những khi địch càn quét, mẹ lại khoác nón lá, ẵm bó cỏ giả vờ chăn bò để xóa dấu vết cửa hầm. Đêm đến, bên ánh đèn dầu tù mờ, mẹ lại khâu vá áo trận, gói cơm nắm, trộn muối rang tiếp tế cho bộ đội. Cuối năm 1948, khi ba chiếc khăn tang liên tiếp phủ lên mái tóc chớm bạc, mẹ vẫn nén đau thương viết thư gửi ra đơn vị: “Con ơi, mẹ còn đất, còn lụa chôn nhau, đừng chùn bước”. Lời nhắn nhủ gan lì ấy đã đi suốt các chiến trường, trở thành điểm tựa tinh thần tiếp sức cho biết bao người lính vững tay súng.

Sự hy sinh phi thường của mẹ Thứ đã khiến ngay cả những người ở bên kia chiến tuyến cũng phải cúi đầu kính cẩn. Năm 1998, khi một phóng viên Hàn Quốc hỏi vì sao mẹ tiếp tục động viên các con ra trận khi đã mất đi bốn, năm người con, mẹ đã điềm đạm trả lời: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Còn giặc thì còn đi”. Quốc gia không bao giờ quên những người đã cho đi tất cả, tháng 7 năm 1994, Chủ tịch nước đã ký quyết định phong tặng danh hiệu cao quý Bà mẹ Việt Nam Anh hùng cho mẹ Nguyễn Thị Thứ. Năm 2009, Tượng đài Mẹ Việt Nam Anh hùng trên núi Cấm (Tam Kỳ, Quảng Nam) đã được khởi công xây dựng với nguyên mẫu là gương mặt đôn hậu, hằn in vết thời gian của mẹ, trở thành một công trình văn hóa lịch sử mang tầm vóc quốc gia và khu vực.

Ngày 10 tháng 12 năm 2010, mẹ Thứ nhẹ nhàng về với đất mẹ ở tuổi 106. Mẹ đã đi trọn một thế kỷ dông bão để đổi lấy bầu trời bình yên cho hậu thế. Ngày nay, trong dòng chảy hào hùng của dân tộc, tấm gương của mẹ vẫn luôn là ngọn đuốc soi đường cho các thế hệ, đặc biệt là các cán bộ, chiến sĩ và quân nhân tại Học viện Lục quân. Từ bục giảng đến thao trường, lớp lớp quân nhân hôm nay không chỉ cầm súng bảo vệ biên cương mà còn là những chiến sĩ trên mặt trận trí tuệ, làm chủ công nghệ quân sự hiện đại, trí tuệ nhân tạo để bảo vệ đất nước. Đứng trước tượng đài mẹ trên đỉnh núi Cấm khi chiều buông, nghe tiếng gió biển thổi qua vách đá hoa cương, ta như nghe thấy lời mẹ nhắn nhủ thiết tha: “Các con ơi, non sông này đã liền một dải, hãy giữ lấy bình yên, đừng để máu phải rơi thêm lần nữa”. Đó là lời thề bất diệt, là mệnh lệnh thiêng liêng dẫn dắt thế hệ trẻ hôm nay tiếp tục dấn thân, lao động và cống hiến hết mình để dựng xây một Việt Nam hùng cường, thịnh vượng.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn