Nguyễn Thị Thứ – Người mẹ của 12 liệt sĩ
Ở vùng quê nghèo xã Điện Thắng, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, có một người mẹ mang tên Nguyễn Thị Thứ. Mẹ sinh năm 1904, trong một gia đình nông dân lam lũ, cuộc đời mẹ trải dài qua những ngày tháng chiến tranh đầy khói lửa. Người ta thường gọi mẹ bằng cái tên giản dị mà kính trọng: Mẹ Thứ – người mẹ của 12 liệt sĩ.
Tuổi thơ của mẹ Thứ gắn liền với đồng ruộng. Mẹ lập gia đình sớm, sinh được 9 người con. Cuộc sống khó khăn nhưng gia đình đầm ấm, các con mẹ lớn lên trong tình yêu thương và sự dạy dỗ nghiêm khắc mà hiền hậu. Khi những cuộc kháng chiến chống thực dân rồi đế quốc bùng nổ, quê hương Quảng Nam trở thành một trong những nơi chiến sự ác liệt nhất. Trong lòng mẹ, nỗi lo cho con cái đi cùng nỗi trăn trở lớn hơn: đất nước còn chìm trong khói lửa, dân lành còn chịu đổ máu, thì gia đình mẹ cũng phải góp phần bảo vệ quê hương.
Người con trai đầu tiên của mẹ lên đường nhập ngũ, để lại lời hứa: “Con đi đánh giặc, bao giờ nước nhà yên bình, con sẽ trở về làm lại căn nhà cho mẹ.” Mẹ chỉ lặng lẽ gói cho con ít gạo rang, dặn dò: “Đi mạnh giỏi nghe con. Mẹ không có gì cho đất nước ngoài các con.” Đó là ngày mẹ bắt đầu tiễn những đứa con thân yêu của mình bước vào cuộc chiến.
Rồi chiến tranh ngày một dữ dội. Những lá thư báo tin chiến thắng thưa dần, thay vào đó là những mảnh giấy báo tử. Con trai cả hi sinh, rồi đến những đứa con khác, con rể và 2 cháu ngoại. Tổng cộng mẹ có 12 liệt sĩ. Mỗi lân nhận tin, mẹ chỉ im lặng thắp nhan, mẹ im lặng - nỗi im lặng của một người mẹ can trường , giấu nỗi đau trong lòng. Người ta thường hỏi sao mẹ không khóc, mẹ chỉ nói: “Khóc cũng không làm tụi nó sống lại. Tụi nó đi vì nước, mẹ có buồn thì cũng phải tự hào.”
Trong suốt bao năm chiến tranh, ngôi nhà của mẹ chưa bao giờ thôi vắng tiếng gọi con. Nhưng trong sự cô đơn ấy, mẹ chưa từng trách than. Mẹ luôn mở cửa chờ đón bộ đội ghé nhà nghỉ tạm, chia bát cơm, ngọn rau. Mẹ bảo: “Bộ đội nào cũng như con mẹ.” Tình thương của mẹ, từ nỗi đau mất mát, đã lan rộng thành tình yêu lớn dành cho tất cả những người đang chiến đấu vì Tổ quốc.
Nhà cửa của mẹ đơn sơ, nghèo khó, nhưng lúc nào cũng ấm áp bởi tình thương của bà con lối xóm và sự biết ơn của lớp lớp chiến sĩ. Người dân thường đến thăm mẹ, nghe mẹ kể chuyện về những đứa con của mình. Mỗi lần kể, mẹ vẫn giữ giọng nhẹ nhàng: “Tụi nó ra đi là để mình có ngày hôm nay. Mẹ già rồi, sống thêm ngày nào là vui ngày đó.”
Năm 1994, Nhà nước phong tặng mẹ danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Ngày cán bộ trao bằng, mẹ cầm tấm giấy, đôi tay run run nhưng ánh mắt sáng lên tự hào. Mẹ bảo: “Không phải vinh dự cho mẹ, mà là cho tụi nhỏ. Tên tụi nó còn sống mãi.”
Những năm cuối đời, mẹ sống trong sự chăm sóc của bà con, của chính quyền và cả những người lính trẻ vẫn thường đến thăm. Dù tuổi đã cao, mẹ vẫn giữ thói quen thắp nhang cho con mỗi sáng, miệng lẩm nhẩm gọi tên từng đứa. Mẹ sống đến 113 tuổi, rồi bình yên trút hơi thở cuối cùng. Cả làng, cả nước tiếc thương mẹ – người mẹ vĩ đại đã hi sinh gần như tất cả dành cho đất nước.
Ngày đưa mẹ về cùng các con, người ta thấy đôi dép cao su cũ kỹ mẹ để lại bên bàn thờ. Đó là đôi dép mà mẹ vẫn giữ suốt nhiều năm, như giữ lại bước chân của những đứa con đã ngã xuống. Với người dân, mẹ Thứ không chỉ là một người mẹ, mà là biểu tượng của lòng yêu nước, của đức hi sinh, của sự kiên cường bất diệt.
Cuộc đời mẹ giống như ngọn đèn nhỏ, cháy hết mình để soi đường cho tương lai của dân tộc. Khi nhắc về mẹ Thứ, người ta vẫn thường nói:
“Mẹ không chỉ sinh ra những người con cho mình, mà sinh ra những anh hùng cho Tổ quốc.”



