NGUYỄN THỊ ÚT – NGƯỜI MẸ CẦM SÚNG
NGUYỄN THỊ ÚT – NGƯỜI MẸ CẦM SÚNG
Bà Nguyễn Thị Út hay còn gọi là Út Tịch, đây là biệt danh mà người dân địa phương gọi ghép từ tên của bà và của chồng – ông Lâm Văn Tịch. Bà sinh ngày 19 tháng 4 năm 1920, tại xã Tam Ngãi, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh (nay thuộc xã Tam Ngãi, tỉnh Vĩnh Long). Cha bà là ông Nguyễn Văn Xương, mẹ là bà Lê Thị Mười, bà là người con thứ 3 cũng là con út trong gia đình và là người có tính khí phản kháng nhất, nhiều lúc còn đánh trả lại với gia đình địa chủ.
Gia đình bà hoàn cảnh nghèo khó phải đi làm mướn, ở đợ cho địa chủ trong vùng. Khi bà lên 13 tuổi thì cha mất sớm. Cùng năm, bà được nhà địa chủ cho phép chuộc thân, thoát cuộc sống nô tỳ nhờ sự ủng hộ của các cán bộ Việt Minh. Với sự mạnh mẽ, bà chịu ảnh hưởng từ sự tuyên truyền cách mạng của cán bộ Việt Minh, từ đó tích cực ủng hộ những người Cộng sản mãi về sau. Cũng từ đó mà khi người Pháp tái chiếm Nam bộ, bà đã xung phong tham gia chiến đấu chống quân Pháp với câu nói “Nó đánh mình, mình đánh nó!” . Nhưng do tuổi còn quá nhỏ nên bà hoạt động với vai trò giao liên. Tháng 12 năm 1949, chiến dịch công kích lớn đầu tiên trên chiến trường Nam Bộ - Chiến dịch Cầu Kè được mở và bà được giao làm trinh sát, công tác giao liên của tổ chức Công an xung phong do ông Chín Luông chỉ huy.
Năm 1950, bà lập gia đình với ông Lâm Văn Tịch, cũng là chiến sĩ trong lực lượng Việt Minh địa phương và có với nhau 9 người con. Sau khi lập gia đình, bà vẫn tiép tục hoạt động trong đội du kích địa phương. Bà đã tham gia tổng cộng 8 trận công đồn, gây nhiều thiệt hại cho địch.
|
Nữ anh hùng Nguyễn Thị Út
Sau 1954, Hiệp định Genève, vợ chồng bà không tập kết mà được phân công ở lại, sống hợp pháp tại miền Nam. Lúc ấy, chính quyền Tổng thống Ngô Đình Diệm lo ngại sự ảnh hưởng của những người Cộng sản, đã thực thi Chính sách tố cộng và diệt cộng, nhắm đến những người kháng chiến cũ, không ngoại trừ gia đình bà. Chồng bà và nhiều đồng đội cũ cũng bị bắt và chỉ được thả ra sau khi bà cùng nhiều phụ nữ khác gây áp lực với chính quyền. Nhưng để yên ổn gia đình bà tạm lánh về Cái Sách làm ăn (hay Kế Sách, tỉnh Hậu Giang).
Cuối năm 1959, gia đình bà trở về Tam Ngãi. Sau Phong trào Đồng Khởi, ông bà tham gia hoạt động quân sự của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Dù phải chăm lo gia đình và con cái nhưng bà vẫn tích cực tham gia hoạt động binh vận, du kích, tham gia đánh nhiều trận, tuyên truyền vận động nhiều binh lính bỏ ngũ. Năm 1964, bà được kết nạp vào Đảng Nhân dân cách mạng miền Nam. Năm 1965, bà được cử đi dự Đại hội anh hùng chiến sĩ thi đua lực lượng vũ trang toàn miền Nam và được bầu là nữ anh hùng lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam, được Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công Giải phóng hạng Nhì. Sau năm 1965, bà được điều về Quân khu 9 công tác. Trong một trận rải thảm B52 của Không Lực Hoa Kỳ vào ngày 27 tháng 11 năm 1968 xuống vùng Tân Châu, Châu Đốc (An Giang), bà và người con gái thứ 3 bị thương nặng và hy sinh sau đó.
Bà được nhà văn Nguyễn Thi xây dựng hình tượng nhân vật chính trong tác phẩm “Người mẹ cầm súng”, về sau được dựng thành phim “Mẹ vắng nhà”.
|
Vai Út Tịch do NSUT Ngọc Thu đảm nhiệm trong phim “Mẹ vắng nhà”
“Còn cái lai quần cũng đánh”, với câu nói mạnh mẽ, bất khuất bà đã cho ta thấy bà là một chiến sĩ trinh sát ngoan cường, dũng cảm, mưu trí, sẵn sàng hiến dâng mình cho Tổ quốc, chiến đấu đến cuối cùng. Cả cuộc đời cách mạng của bà đã tham gia 23 trận lớn nhỏ, góp phần quan trọng cùng đơn vị diệt và làm tan rã trên 200 giặc, thu 70 súng, phá vỡ nhiều binh sĩ địch, nhiều lần đưa bộ đội vào diệt bót lấy súng không tốn một viên đạn nào. Không những vậy, bà còn cùng đồng đội đi đánh đồn bót địch trong lúc đang có thai, đồng đội có khuyên ngăn nhưng bà đã thản nhiên khẳng định chắc nịt rằng “Có ai đánh giặc mà chờ sinh xong mới đánh, còn gà mái là còn con gà giò, cứ đánh!”. Hình tượng của bà cho ta thấy một vẻ đẹp khác của người phụ nữ Việt Nam. Người phụ nữ Việt Nam không chỉ đoan trang, mĩ miều mà còn một lòng trung với nước, hiếu với dân, mang khí phách Anh hùng – Bất khuất – Trung hậu – Đảm đang.





