Khác

Nguyễn Thiện Thuật: Khí chất "Dữ Quốc Đồng Ưu" và linh hồn của Bãi Sậy

Tác giả: Nguyễn Thị Minh Trang

Hưng Yên24/08/2026Trường Đại học Hải Dương (Trường Đại học Hải Dương)1 lượt xem0 lượt chia sẻ
Nguyễn Thiện Thuật: Khí chất "Dữ Quốc Đồng Ưu" và linh hồn của Bãi Sậy

Giữa vùng đất sình lầy lau sậy um tùm của Hưng Yên những năm cuối thế kỷ XIX, có một hình bóng thủ lĩnh đã trở thành nỗi khiếp sợ của quân xâm lược Pháp và là điểm tựa tinh thần vững chắc cho muôn dân trăm họ. Người đó chính là Nguyễn Thiện Thuật (còn gọi là Tán Thuật) – vị danh tướng kiên trung, linh hồn của cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy hào hùng.

Từ dòng dõi hào khí đến vị quan thanh liêm

Nguyễn Thiện Thuật sinh ngày 23 tháng 3 năm 1844 tại làng Xuân Dục, huyện Đường Hào (nay thuộc thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên). Là con cả trong một gia đình nhà nho nghèo có cha là tú tài Nguyễn Tuy làm nghề dạy học, ngay từ thuở nhỏ, ông đã nổi tiếng khắp vùng về tài văn võ song toàn. Gia phả dòng họ ghi nhận ông chính là hậu duệ của Anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi. Có lẽ dòng máu trung quân ái quốc và khí phách của tổ tiên đã thấm đẫm vào tâm trí ông qua bức hoành phi "Dữ quốc đồng ưu" (Cùng lo với nước) treo trang trọng trong nhà thờ họ.

Năm 1870, ông đậu Tú tài, và đến khoa thi nho học năm 1876 thì đỗ Cử nhân. Khoa thi năm ấy cũng là nơi ghi dấu tình bạn tâm giao giữa ông và Đình nguyên Tiến sĩ Phan Đình Phùng – người sau này cũng trở thành một lãnh tụ Cần Vương lỗi lạc. Trải qua nhiều chức vụ từ Tri phủ Từ Sơn đến Tán tương quân vụ Hải Dương, rồi Chánh sứ sơn phòng Hưng Hóa kiêm Tán tương quân vụ Sơn Tây, ông luôn được biết đến là một vị quan thanh liêm, công minh và giàu tài cai trị.

Lời thề kháng chỉ, quyết tâm giữ nước

Khi thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm Bắc Kỳ lần thứ hai (1882-1883) và triều đình nhà Nguyễn bạc nhược đầu hàng, Nguyễn Thiện Thuật đã dũng cảm kháng lệnh bãi binh. Đối với ông, vận mệnh quốc gia không thể đặt vào một tờ hòa ước bán nước. Ông sang Đông Triều chiêu mộ nghĩa quân, liên kết với thủ lĩnh Đinh Gia Quế xây dựng căn cứ chống Pháp tại Bãi Sậy.

Ngay cả khi vua Tự Đức ra lệnh bãi binh ở Bắc Kỳ, ông vẫn kháng chỉ, lên Hưng Hóa, Tuyên Quang rồi Lạng Sơn sát cánh cùng các sĩ phu yêu nước tiếp tục cuộc chiến. Chỉ đến khi các thành trì lần lượt thất thủ vào năm 1885, ông mới phải tạm lánh sang Long Châu (Trung Quốc) để chờ thời cơ.

Linh hồn chiến khu Bãi Sậy

Tháng 7 năm 1885, tiếng gọi của Chiếu Cần Vương từ vua Hàm Nghi như luồng gió bùng cháy ngọn lửa yêu nước trong lòng người tráng sĩ. Nguyễn Thiện Thuật lập tức trở về nước, tiếp quản quyền chỉ huy nghĩa quân Bãi Sậy thay cho Đinh Gia Quế đã mất. Với sự tích cực và uy tín của mình, ông được vua Hàm Nghi phong chức Bắc Kỳ Hiệp thống quân vụ đại thần.

Dưới sự dẫn dắt của "quan Hiệp Thống", cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy lột xác từ một phong trào tự phát trở thành một cuộc kháng chiến có tổ chức chặt chẽ và rộng khắp đồng bằng Bắc Bộ. Dựa vào vùng sình lầy lau sậy của các huyện Văn Giang, Khoái Châu, Yên Mỹ, Mỹ Hào, ông đã sáng tạo nên chiến thuật chiến tranh du kích vô cùng độc đáo. Nghĩa quân lúc ẩn lúc hiện, nhận được sự đùm bọc tuyệt đối của nhân dân, liên tục tập kích đồn bốt, cắt đứt các tuyến đường giao thông huyết mạch của Pháp trên tuyến Hà Nội - Hưng Yên - Hải Dương - Hải Phòng.

Sức mạnh của phong trào lan rộng tới Hải Dương, Thái Bình, Nam Định nhờ sự liên kết chặt chẽ với các sĩ phu yêu nước khác như Tạ Hiện. Chính người Pháp đương thời cũng phải cúi đầu thừa nhận, Tán Thuật là lãnh tụ duy nhất biết cách tập hợp và dựa vào sức mạnh của quần chúng nông dân để đấu tranh.

Khí tiết nghìn thu: "Bất khẳng thụ chỉ"

Nhận thấy không thể dùng vũ lực khuất phục được tinh thần Bãi Sậy, năm 1888, thực dân Pháp sai tên Việt gia Hoàng Cao Khải đem quân đàn áp kết hợp dụ hàng, hứa hẹn khôi phục chức tước cao sang. Đứng trước danh lợi và sự phản bội, Nguyễn Thiện Thuật đã thẳng tay phê vào tờ sớ dụ bốn chữ đanh thép: “Bất khẳng thụ chỉ” (Không chịu nhận chỉ). Lời khước từ đó là minh chứng hùng hồn cho khí tiết lẫm liệt của người anh hùng.

Nhận thấy thế cục trong nước ngày càng ngặt nghèo, ông quyết định trao lại quyền chỉ huy cho em trai Nguyễn Thiện Kế và tùy tướng Đốc Tít để sang Trung Quốc bàn kế hoạch cầu viện với Tôn Thất Thuyết. Tuy nhiên, đại cuộc không thành, ông ôm nỗi căm hờn mất nước và qua đời vì bệnh tật tại Nam Ninh (Quảng Tây, Trung Quốc) ngày 25 tháng 5 năm 1926. Trên bia mộ ông nơi đất khách, người ta trân trọng khắc ghi: “Việt Nam cách mạng. Cố tướng quân Nguyễn Công Thiện Thuật - Chi mộ”.

Trở về trong lòng đất mẹ

Dẫu cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy lụi tàn vào năm 1892 sau khi người em trai Nguyễn Thiện Dương hy sinh và Nguyễn Thiện Kế bị đày ra Côn Đảo, tinh thần du kích của chiến khu năm xưa vẫn mãi là ngọn đuốc sáng.

Tròn 79 năm nằm lại nơi viễn xứ, đến ngày 30 tháng 1 năm 2005, hài cốt của vị tướng quân lỗi lạc đã được Đảng, Nhà nước và dòng họ long trọng đón về cải táng tại quê hương Xuân Dục. Giờ đây, nằm bên cây đề cổ thụ – vốn là vọng gác tiền tiêu của nghĩa quân năm nào – anh linh của Nguyễn Thiện Thuật đã có thể mỉm cười thanh thản giữa một quê hương thanh bình. Câu chuyện về cuộc đời ông sẽ mãi là khúc tráng ca bất tử về lòng ái quốc và tinh thần tự tôn dân tộc cho các thế hệ mai sau soi mình.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn