Nguyễn Thiện Thuật – Tiền đề tinh thần kháng chiến chống Pháp
Nguyễn Thiện Thuật, quê ở làng Xuân Dục, tổng Bạch Sam, huyện Đường Hào, tỉnh Hưng Yên (nay là làng Xuân Đào, xã Xuân Dục, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên). Ông là con cả của một gia đình nhà nho nghèo, có tài văn võ nổi tiếng khắp trong làng ngoài huyện. Theo gia phả của dòng họ Nguyễn thì Nguyễn Thiện Thuật, thuộc dòng họ hậu duệ đời thứ 30 của Nguyễn Trãi.
Nguyễn Thiện Thuật – Linh hồn của cuộc khởi nghĩa Bãi SậyTrang chủNghiên cứuNhân vật lịch sử
31/01/2014 21:12 12148 Điểm: 5/5 (3 đánh giá)Nguyễn Thiện Thuật (1844-1926), tên tự là Mạnh Hiếu, còn gọi là Tán Thuật, nhà yêu nước, danh tướng Cần vương chống Pháp, thủ lĩnh của khởi nghĩa Bãi Sậy, một trong các cuộc khởi nghĩa của phong trào Cần Vương chống Pháp cuối thế kỷ 19.Nguyễn Thiện Thuật, quê ở làng Xuân Dục, tổng Bạch Sam, huyện Đường Hào, tỉnh Hưng Yên (nay là làng Xuân Đào, xã Xuân Dục, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên). Ông là con cả của một gia đình nhà nho nghèo, có tài văn võ nổi tiếng khắp trong làng ngoài huyện. Theo gia phả của dòng họ Nguyễn thì Nguyễn Thiện Thuật, thuộc dòng họ hậu duệ đời thứ 30 của Nguyễn Trãi.
Nguyễn Thiện Thuật (1844-1926)Cha ông là tú tài Nguyễn Tuy làm nghề dạy học. Mẹ ông họ Phạm người làng Dị Sử (nay thuộc xã Dị Sử cùng huyện). Gia đình ông có 6 người con, 2 gái, 4 trai. Nguyễn Thiện Thuật là anh cả, trừ người em bị mất sớm, các em trai ông là Nguyễn Thiện Dương và Nguyễn Thiện Kế sau này cũng đều tham gia khởi nghĩa Bãi Sậy.Năm 1870, Nguyễn Thiện Thuật đậu Tú tài. Năm 1874, Nguyễn Thiện Thuật được triều đình nhà Nguyễn cử làm Bang biện do có công đánh giặc ở Kinh Môn, tỉnh Hải Dương. Năm (Bính Tý) 1876 ông tiếp tục dự kỳ thi nho học và đậu Cử nhân. Sau đó Nguyễn Thiện Thuật được thăng chức Tri phủ Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh.Năm Kỷ Mão (1879), ông được bổ nhiệm giữ chức Tán tương quân vụ tỉnh Hải Dương (vì thế nhân dân thường gọi ông là Tán Thuật). Năm 1881, ông giữ chức Chánh sứ sơn phòng tỉnh Hưng Hóa kiêm chức Tán tương quân vụ tỉnh Sơn Tây. Ông làm quan thanh liêm, công minh và có tài cai trị.Khi thực dân Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ lần thứ hai năm 1882-1883, nhà Nguyễn đầu hàng, nhưng Nguyễn Thiện Thuật đã kháng lệnh triều đình nhà Nguyễn, ông cùng một số sĩ phu yêu nước trong tỉnh đứng lên mộ quân đánh giặc.Đầu năm 1883, ông sang Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh để chiêu mộ nghĩa quân và liên kết với Đinh Gia Quế, lập căn cứ ở Bãi Sậy để chống Pháp. Cuối năm 1883, sau khi ký hiệp ước Harmand, vua Tự Đức ra lệnh bãi binh ở Bắc Kỳ, nhưng Nguyễn Thiện Thuật kháng chỉ và lên Hưng Hóa, Tuyên Quang cùng với Nguyễn Quang Bích tiếp tục kháng chiến.Năm 1884, thành Hưng Hóa thất thủ, ông rút lên thành Lạng Sơn phối hợp với Lã Xuân Oai, Tuần phủ Lạng Bình (Lạng Sơn, Cao Bằng) kháng Pháp, cho tới khi thành này thất thủ năm 1885, thì trốn sang Long Châu - Trung Quốc.Tháng 7 năm 1885, vua Hàm Nghi hạ chiếu Cần Vương. Nguyễn Thiện Thuật trở về nước, hưởng ứng chiến Cần Vương của Hàm Nghi, ông hăng hái đứng ra thống nhất các lực lượng chống Pháp ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, chọn Bãi Sậy (một cánh đồng lớn, lau sậy mọc um tùm, nằm giữa các huyện Văn Giang, Khoái Châu, Yên Mỹ và Mỹ Hào) làm căn cứ, tiếp tục sự nghiệp của thủ lĩnh Đinh Gia Quế (do thủ lĩnh Đinh Gia Quế đã mất). Do Nguyễn Thiện Thuật là viên quan tích cực hưởng ứng phong trào Cần Vương nhất ở Bắc Kỳ nên vua Hàm Nghi phong cho ông làm Bắc Kỳ Hiệp thống quân vụ đại thần, gia trấn Trung tướng quân, nên nhân dân còn gọi ông là quan Hiệp Thống.
Nguyễn Thiện Thuật (1844-1926)Cha ông là tú tài Nguyễn Tuy làm nghề dạy học. Mẹ ông họ Phạm người làng Dị Sử (nay thuộc xã Dị Sử cùng huyện). Gia đình ông có 6 người con, 2 gái, 4 trai. Nguyễn Thiện Thuật là anh cả, trừ người em bị mất sớm, các em trai ông là Nguyễn Thiện Dương và Nguyễn Thiện Kế sau này cũng đều tham gia khởi nghĩa Bãi Sậy.Năm 1870, Nguyễn Thiện Thuật đậu Tú tài. Năm 1874, Nguyễn Thiện Thuật được triều đình nhà Nguyễn cử làm Bang biện do có công đánh giặc ở Kinh Môn, tỉnh Hải Dương. Năm (Bính Tý) 1876 ông tiếp tục dự kỳ thi nho học và đậu Cử nhân. Sau đó Nguyễn Thiện Thuật được thăng chức Tri phủ Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh.Năm Kỷ Mão (1879), ông được bổ nhiệm giữ chức Tán tương quân vụ tỉnh Hải Dương (vì thế nhân dân thường gọi ông là Tán Thuật). Năm 1881, ông giữ chức Chánh sứ sơn phòng tỉnh Hưng Hóa kiêm chức Tán tương quân vụ tỉnh Sơn Tây. Ông làm quan thanh liêm, công minh và có tài cai trị.Khi thực dân Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ lần thứ hai năm 1882-1883, nhà Nguyễn đầu hàng, nhưng Nguyễn Thiện Thuật đã kháng lệnh triều đình nhà Nguyễn, ông cùng một số sĩ phu yêu nước trong tỉnh đứng lên mộ quân đánh giặc.Đầu năm 1883, ông sang Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh để chiêu mộ nghĩa quân và liên kết với Đinh Gia Quế, lập căn cứ ở Bãi Sậy để chống Pháp. Cuối năm 1883, sau khi ký hiệp ước Harmand, vua Tự Đức ra lệnh bãi binh ở Bắc Kỳ, nhưng Nguyễn Thiện Thuật kháng chỉ và lên Hưng Hóa, Tuyên Quang cùng với Nguyễn Quang Bích tiếp tục kháng chiến.Năm 1884, thành Hưng Hóa thất thủ, ông rút lên thành Lạng Sơn phối hợp với Lã Xuân Oai, Tuần phủ Lạng Bình (Lạng Sơn, Cao Bằng) kháng Pháp, cho tới khi thành này thất thủ năm 1885, thì trốn sang Long Châu - Trung Quốc.Tháng 7 năm 1885, vua Hàm Nghi hạ chiếu Cần Vương. Nguyễn Thiện Thuật trở về nước, hưởng ứng chiến Cần Vương của Hàm Nghi, ông hăng hái đứng ra thống nhất các lực lượng chống Pháp ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, chọn Bãi Sậy (một cánh đồng lớn, lau sậy mọc um tùm, nằm giữa các huyện Văn Giang, Khoái Châu, Yên Mỹ và Mỹ Hào) làm căn cứ, tiếp tục sự nghiệp của thủ lĩnh Đinh Gia Quế (do thủ lĩnh Đinh Gia Quế đã mất). Do Nguyễn Thiện Thuật là viên quan tích cực hưởng ứng phong trào Cần Vương nhất ở Bắc Kỳ nên vua Hàm Nghi phong cho ông làm Bắc Kỳ Hiệp thống quân vụ đại thần, gia trấn Trung tướng quân, nên nhân dân còn gọi ông là quan Hiệp Thống.

