Nguyễn Trãi – anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới
Nguyễn Trãi, hiệu Ức Trai, sinh năm Canh Thân (1380) tại kinh thành Thăng Long. Ông vốn ở làng Chi Ngại, lộ Lạng Giang (nay thuộc huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương), sau dời về làng Ngọc Ổi, huyện Thượng Phúc, xứ Sơn Nam Thượng (nay thuộc xã Nhị Khê, huyện Thường Tín, ngoại thành Hà Nội).
âm nhạc: “Xin bệ hạ yêu nuôi nhân dân, khiến cho các nơi làng mạc không có tiếng oán giận, than sầu, đó là không mất cái gốc của nhạc vậy!”.
Cuối những năm 30 thế kỷ XV, triều đình ngày càng thối nát với sự tranh giành ngày càng dữ dội giữa các phe phái. Những thủ đoạn nham hiểm nhất đã được sử dụng để hãm hại lẫn nhau. Ông cảm thấy ghê sợ trước sự dối trá và độc ác của những con người mà lòng dạ “khó hiểu hơn vực sâu”, miệng nói “sắc nhọn hơn chông mác”.
Cuối cùng, để thoả mãn nguyện vọng cáo quan của ông, và cũng để gạt ông ra khỏi việc nước, triều đình đã thuận cho ông về nghỉ tại Côn Sơn. Ông như người trút được gánh nặng. Từ đây không ai quấy rầy ông nữa: “Trúc có nghìn cây để ngăn khách tục. Bụi không nửa điểm bợn đến căn nhà trên núi”. Tưởng chừng ông rất thanh thản với cuộc sống thanh cao không vướng bận bụi đời, nhưng sâu thẳm trong ông vẫn là “tấc lòng ưu ái” không bao giờ nguôi trước cuộc sống thực tế đang diễn biến phức tạp trên đất nước yêu quý của mình.
Bụi một tấc lòng ưu ái cũ,
Đêm ngày cuồn cuộn nước triều đông.
Vào năm 1439, Lê Thái Tông bấy giờ đã lớn khôn, có ý thức củng cố lại triều đình. Nhà vua xuống chiếu mời Nguyễn Trãi ra nhận lại mọi chức tước cũ, lại phong thêm chức Môn hạ sảnh tả ty Gián nghị đại phu kiêm Tri tam quán sự, Đề cử chùa Tư Phúc ở Côn Sơn, đặc trách trông coi hai đạo Đông và Bắc. Đầu năm Nhâm Tuất (1442), với danh nghĩa Thừa chỉ Viện Hàn lâm kiêm Quốc Tử Giám, ông được chỉ định vào ban giám khảo khoa thi Tiến sĩ đầu tiên dưới thời Lê Thái Tông.
Thực hành những việc được giao, khi ở trong triều, khi đến với quân dân hai đạo, Nguyễn Trãi đã có được một quãng thời gian làm việc với tâm trạng thoải mái hơn. Nhưng chẳng được bao lâu thì tai họa bỗng dưng ập đến. Lê Thái Tông đi duyệt võ ở Phả Lại, Chí Linh, có ghé thăm Nguyễn Trãi ở Côn Sơn, khi về có Nguyễn Thị Lộ vợ Nguyễn Trãi đi theo xa giá, ngày 7 - 9 - 1442 đến Lệ Chi Viên thuộc huyện Gia Định (nay thuộc huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh). Vua ngủ lại và mất đột ngột trong đêm hôm đó.
Triều đình lập tức vu cho Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ âm mưu giết vua. Với bản án tru di tam tộc, chỉ 12 ngày sau đó, ngày 19 - 9 - 1442, cả gia đình Nguyễn Trãi đã bị sát hại. Riêng người vợ lẽ là bà Phạm Thị Mẫn may trốn thoát khi đang có mang, sau sinh ra Nguyễn Anh Vũ.
Cái chết bi thảm của Nguyễn Trãi là một bản cáo trạng đối với chế độ quân chủ chuyên chế triều Lê, là hậu quả tất yếu và đầy nghịch lý mà một con người “nhân nghĩa quá, trung thực quá, thanh liêm quá” (Phạm Văn Đồng), phải hứng chịu trong hoàn cảnh đối mặt với những cuộc tranh giành ngôi thứ, bè phái, hãm hại nhau giữa một lũ gian thần nhỏ nhen, độc ác.
Mãi 22 năm sau khi ông qua đời, vua Lê Thánh Tông mới xuống chiếu giải oan cho ông, truy phong chức Đặc tiền kim tử vinh lộc đại phu, tước Tán Trù bá, bổ dụng Nguyễn Anh Vũ con trai ông làm Tri huyện và cấp 100 mẫu ruộng dùng vào việc thờ cúng ông. “Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo” (Tấm lòng Ức Trai ngời sáng tựa sao Khuê). Nhà vua anh minh đã phát biểu về Nguyễn Trãi như vậy. Năm 1467, nhà vua còn xuống chiếu cho Trần Khắc Kiệm tìm lại các tác phẩm của Nguyễn Trãi. Đến năm 1480, Dương Bá Cung mới hoàn thành sưu tập và đề tựa bộ sách Ức Trai di tập (7 quyển, cả chữ Hán và Nôm).
Nguyễn Trãi không còn nữa, nhưng tinh thần và sự nghiệp của ông vẫn sống mãi với non sông đất nước và mãi mãi không phai mờ trong tâm trí của mỗi người Việt Nam.
Ông là người anh hùng vĩ đại trọn đời chiến đấu hy sinh cho dân tộc, nhà chiến lược thiên tài mà công lao to lớn đã góp phần quyết định trong cuộc đánh thắng quân Minh, giải phóng đất nước.
Ông là nhà văn nhà thơ lỗi lạc đã để lại một di sản lớn về văn học với nhiều kiệt tác. Ngoài những tác phẩm nhằm trực tiếp phục vụ cuộc chiến đấu giành độc lập mà tiêu biểu là Quân trung từ mệnh và Bình Ngô đại cáo, ông còn viết Phú núi Chí Linh và Văn bia Vĩnh Lăng nêu bật công tích của Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn, viết Dư địa chí, cuốn địa lý học lịch sử đầu tiên của nước ta, v.v... Ông sáng tác hàng trăm bài thơ chữ Hán, hàng trăm bài thơ chữ Nôm, về sau được sưu tập thành hai cuốn Ức Trai thi tập và Quốc âm thi tập.
Ông là nhà trí thức uyên bác, tài đức vẹn toàn. Là nhà văn hóa kiệt xuất của dân tộc và danh nhân văn hóa thế giới làm rạng rỡ non sông đất nước.
Ông là tinh hoa dân tộc, tiêu biểu cho những phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam. Ông vươn tới đỉnh cao nhất trong phạm vi thời đại của ông, làm đầy đủ nhất những việc mà người trí thức trong hoàn cảnh của ông có thể làm. Ông hoàn toàn xứng đáng với lòng khâm phục và tự hào của dân tộc Việt Nam và nhân dân thế giới./.
Theo Danh nhân Thăng Long - Hà Nội



