Nguyễn Trãi – Người suốt đời vì nước, dù bị oan cũng không đổi lòng
Nguyễn Trãi sinh ra trong một gia đình có truyền thống yêu nước, từ nhỏ đã thông minh, học rộng, hiểu rõ sách vở cũng như nỗi khổ của nhân dân. Khi giặc Minh xâm chiếm nước ta, tàn phá làng mạc, áp bức người dân, cướp của, giết người, ông vô cùng đau xót, tự nhủ phải tìm cách đuổi giặc ra khỏi bờ cõi, giành lại độc lập cho quê hương. Ông nghe tin Lê Lợi giương cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn, liền bỏ hết tài sản gia đình, một mình lặn lội bao ngày đêm vào núi gặp người lãnh đạo nghĩa quân.
Khi gặp Lê Lợi, Nguyễn Trãi nói thẳng những điều suy nghĩ trong lòng: muốn thắng giặc không chỉ靠 đánh, mà phải có lòng dân; không chỉ đánh ở ngoài, mà phải biết thu xếp việc trong nước. Ông viết ra những kế sách rõ ràng, từng bước một, từ cách tuyển dụng người tài, cách đối xử với nhân dân, đến cách đánh giặc khi mạnh khi yếu. Lê Lợi nghe thấy rất hợp lòng, liền giữ ông ở bên, tin tưởng và giao việc quan trọng.
Suốt bao năm kháng chiến, Nguyễn Trãi không ngồi yên một chỗ. Ông đi khắp các vùng, viết thư chiêu tập những người còn phân vân, giải thích rõ lẽ phải trái, khiến nhiều người tự nguyện theo nghĩa quân. Khi nghĩa quân yếu, phải rút vào núi sâu, ăn thiếu, mặc thiếu, ông vẫn ở lại, không hề bỏ đi. Khi có người đề nghị hòa, ông kiên quyết phản đối: "Chúng ta khởi nghĩa để giành lại nước cho dân, chứ không phải chia đất mà sống yên cho riêng mình". Ông viết những lá thư, những bài hịch lay động lòng người, khiến cả nước đồng lòng chống giặc.
Sau bao năm gian khổ, cuối cùng giặc bị đuổi ra khỏi nước, độc lập được giành lại. Nguyễn Trãi lại viết Bình Ngô đại cáo – bài văn lịch sử vĩ đại, tuyên bố với cả thiên hạ: nước Việt có bờ cõi riêng, văn hiến riêng, không ai có thể xâm phạm được. Ông đề nghị giảm thuế, chăm lo đời sống người nghèo, tuyển dụng người có đức có tài, không phân biệt xuất thân. Ông muốn xây dựng một nước độc lập, công bằng, mọi người được sống yên bình.
Nhưng sau đó, ông bị kẻ gian vu khống, chịu oan khuất to lớn, gia đình bị hại, bản thân bị đày đọa. Dù vậy, ông không hề oán trách nhân dân, không hề đổi lòng yêu nước. Cho đến cuối đời, ông vẫn viết thơ, viết sách, nói về đạo lý làm người, về lòng trung thực, về tình yêu quê hương. Mãi sau này, khi sự thật được sáng tỏ, người dân khắp nơi đều thương tiếc và kính trọng ông, lập đền thờ, coi ông như vị anh hùng đã suốt đời cống hiến cho nước, dù bị oan cũng không thay đổi lý tưởng.


