NGUYỄN TRI PHƯƠNG – NGƯỜI CHÈO LÁI QUA BA THẾ KỶ VÀ CHÍNH KHÍ BẤT DIỆT TRƯỚC VÒNG XOÁY LỊCH SỬ

NGUYỄN TRI PHƯƠNG – NGƯỜI CHÈO LÁI QUA BA THẾ KỶ VÀ CHÍNH KHÍ BẤT DIỆT TRƯỚC VÒNG XOÁY LỊCH SỬ

Lịch sử cận đại Việt Nam thế kỷ XIX bước vào thời kỳ bão táp khi vương triều nhà Nguyễn phải đối diện với làn sóng xâm lược từ phương Tây. Trước một kẻ thù sở hữu pháo thuyền tối tân và súng đạn hiện đại, triều đình Huế lúng túng trong các giải pháp bang giao và tác chiến. Giữa khúc quanh định mệnh đầy máu và nước mắt ấy, Nguyễn Tri Phương (1800 – 1873) hiện lên như một bức trường thành tinh thần quật cường của cả dân tộc. Từ một người con của làng quê nghèo khó xứ Huế, ông đã bôn ba khắp ba miền Nam – Trung – Bắc, gánh vác những trọng trách hiểm nghèo nhất chốn sa trường. Cuộc đời ông không chỉ là một chuỗi những trận đánh phòng thủ kiên cường, mà còn là bản hùng ca bi tráng về một gia tộc toàn trung, trọn đời giữ vững chính khí trước vòng xoáy nghiệt ngã của lịch sử.
Nguyễn Tri Phương (tên khai sinh là Nguyễn Văn Chương) sinh trưởng trong một gia đình làm ruộng và làm mộc tại Phong Điền, Thừa Thiên Huế. Không giống như các đại thần cùng thời tiến thân bằng con đường khoa bảng lầu son gác tía, ông bước vào chốn quan trường từ những chức thư lại nhỏ ở địa phương. Chính xuất phát điểm từ thực tiễn lao động đã nhào nặn nên một Nguyễn Tri Phương có nhãn quan sắc bén, am hiểu cuộc sống của nhân dân và có tư duy hành động thực tế. Tài năng thiên bẩm và tấm lòng tận tụy của ông đã chinh phục ba đời vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Cái tên "Nguyễn Tri Phương" do vua Tự Đức ban tặng (mang ý nghĩa là người nhiều mưu chước) chính là sự thừa nhận tối cao của hoàng triều đối với một bậc vĩ nhân đại tài.
Dấu ấn quân sự vĩ đại nhất của Nguyễn Tri Phương nằm ở tư duy phòng thủ chủ động vượt thời đại. Khi liên quân Pháp - Tây Ban Nha nổ súng tấn công cửa biển Đà Nẵng năm 1858 với chiến lược "đánh nhanh thắng nhanh", ông được cử làm Tổng đốc quân vụ tiền tuyến. Thấu hiểu sự chênh lệch về hỏa lực, Nguyễn Tri Phương kiên quyết không đẩy quân sĩ vào những cuộc đối đầu trực diện tự sát. Ông cho đắp hệ thống thành lũy Liên Trì kiên cố, áp dụng chiến thuật "vườn không nhà trống" và tổ chức bao vây chặt chẽ quân thù. Sách lược mưu trí này đã biến mặt trận Đà Nẵng thành một vũng lầy chôn vùi tham vọng của viễn chinh Pháp, buộc chúng phải bỏ cuộc sau 5 tháng sa lầy trong cảnh đói khát và dịch bệnh. Đây là chiến thắng phòng ngự toàn vẹn nhất của quân đội nhà Nguyễn trong buổi đầu chống Pháp.
Không cho phép mình ngơi nghỉ, vị lão tướng tiếp tục mang tấm thân đầy thương tích vào miền Nam làm Kinh lược sứ, chỉ huy xây dựng đại đồn Chí Hòa để ngăn bước chân xâm lược của giặc tại Gia Định. Dù đại đồn Chí Hòa sau đó thất thủ trước làn sóng đại bác quá mạnh của đối phương, nhưng khí phách của ông đã nhen nhóm và cổ vũ mạnh mẽ cho phong trào kháng chiến tự phát của các nghĩa sĩ Nam Bộ như Nguyễn Trung Trực, Trương Định.
Chương bi tráng và lẫm liệt nhất của cuộc đời ông diễn ra tại Bắc Hà vào năm 1872, khi ông bước sang tuổi 72 và được cử làm Tổng đốc thành Thăng Long. Đứng trước tối hậu thư đòi giải giáp vũ khí của trung úy Pháp Francis Garnier, vị lão tướng tóc bạc như cước, mang trong mình dòng máu của một tráng sĩ, đã chọn cách đứng thẳng người. Sáng ngày 20/11/1873, khi quân Pháp nổ súng tấn công, Nguyễn Tri Phương cùng con trai là Phò mã Nguyễn Lâm trực tiếp lên mặt thành, chỉ huy quân sĩ chiến đấu đến hơi thở cuối cùng để bảo vệ kinh thành Thăng Long cổ kính. Nguyễn Lâm trúng đạn hy sinh tại chỗ, bản thân ông bị mảnh pháo găm sâu vào bụng, rách toác máu. Thành mất, ông bị quân Pháp bắt giữ khi đang bất tỉnh trên chiến trường.
Trấn giữ trong ngục tối, người Pháp cúi đầu nể phục nhân cách của ông, tìm mọi cách chạy chữa vết thương và dùng bổng lộc, tiền tài dụ dỗ ông ra hợp tác. Nhưng tất cả những mưu đồ xảo quyệt của kẻ thù đều phải bất lực trước lòng đại trung tinh ròng của vị đại thần nước Đại Việt. Ông kiên quyết giật tung mọi băng bó, từ chối mọi loại thuốc men và thực hiện cuộc tuyệt thực suốt gần một tháng trời. Câu nói đanh thép, ngạo nghễ của ông trước mặt viên tướng Pháp đã trở thành lời tuyên ngôn bất tử của khí tiết kẻ sĩ:
"Bấy lâu nay các ngươi lo chữa chạy cho ta, muốn ta sống để làm gì? Bây giờ nếu ta mang ơn các ngươi mà sống, thà rằng ta chết đi cho vẻ vang hơn!".
Ngày 20/12/1873, Nguyễn Tri Phương trút hơi thở cuối cùng trong ngục, giữ vẹn nguyên lòng trung thành tuyệt đối với tổ quốc. Sự ngã xuống của ông kết hợp với sự hy sinh trước đó của người em trai Nguyễn Duy (tại Chí Hòa) và con trai Nguyễn Lâm đã tạo nên một tượng đài gia tộc ba đời trung liệt hiến dâng trọn vẹn máu xương cho nền độc lập dân tộc.
Nguyễn Tri Phương đã đi vào cõi bất tử, nhưng ngọn đuốc chính khí mà ông thắp lên dưới chân thành Thăng Long thì vĩnh viễn trường tồn cùng non sông. Di sản ông để lại không chỉ là những chiến thuật phòng thủ thông minh, mà là bài học sâu sắc về nhân cách của một trí thức chân chính: Quyền lực và chức tước có thể thay đổi, vương triều có thể suy thịnh, nhưng danh dự của một người con đất Việt trước họa ngoại bang thì không bao giờ được phép cúi đầu. Tên của ông được trân trọng đặt cho các trường học, con đường lớn và cây cầu trang trọng trên khắp dải đất hình chữ S, trở thành niềm tự hào bất diệt trong lòng mỗi người dân Việt Nam hôm nay và mai sau.



