Bài viết

NGUYỄN TRI PHƯƠNG – VỊ TƯỚNG GIÀ VÀ LỜI THỀ TRỌN ĐỜI VÌ NON SÔNG

NGUYỄN TRI PHƯƠNG – VỊ TƯỚNG GIÀ VÀ LỜI THỀ TRỌN ĐỜI VÌ NON SÔNG

Huế05/11/2026BÙI THỊ HOA (Phường Hoàng Quế)19 lượt xem0 lượt chia sẻ

NGUYỄN TRI PHƯƠNG – VỊ TƯỚNG GIÀ VÀ LỜI THỀ TRỌN ĐỜI VÌ NON SÔNG

Trong lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam, có biết bao người anh hùng đã hiến dâng cả cuộc đời mình để bảo vệ quê hương. Có người ngã xuống khi tuổi đời còn rất trẻ, có người chiến đấu đến hơi thở cuối cùng dù mái tóc đã bạc. Trong số những tấm gương sáng ấy, Nguyễn Tri Phương là một vị tướng đáng kính, người đã dành trọn cuộc đời cho đất nước và để lại bài học sâu sắc về lòng yêu nước, ý chí kiên cường và khí tiết của người anh hùng dân tộc.

Nguyễn Tri Phương tên thật là Nguyễn Văn Chương, sinh năm 1800 tại làng Đường Long, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Ông xuất thân trong một gia đình bình dân, không có truyền thống làm quan. Nhờ sự thông minh, chăm chỉ và ý chí vươn lên, ông từng bước trưởng thành, được triều đình nhà Nguyễn trọng dụng và trở thành một vị đại thần, võ tướng có nhiều đóng góp quan trọng.

Trong quá trình làm quan, Nguyễn Tri Phương từng được giao nhiều trọng trách ở các địa phương. Ông có công trong việc tổ chức khai hoang, xây dựng công trình thủy lợi, chăm lo đời sống nhân dân và giữ gìn an ninh. Với tài năng và sự tận tụy, ông được triều đình tin tưởng giao nhiệm vụ chỉ huy quân đội trong nhiều chiến dịch quan trọng.

Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng, mở đầu cuộc xâm lược Việt Nam. Trước tình thế nguy hiểm, Nguyễn Tri Phương được cử vào chỉ huy quân dân chống giặc. Ông đã tổ chức phòng thủ, xây dựng hệ thống đồn lũy, tiêu biểu là phòng tuyến Liên Trì, đồng thời chỉ huy quân đội kiên trì chống trả các đợt tiến công của đối phương. Nhờ sự chiến đấu bền bỉ của quân dân ta, quân Pháp gặp nhiều khó khăn và không thể nhanh chóng chiếm được Đà Nẵng.

Sau đó, Nguyễn Tri Phương được điều vào Gia Định để tiếp tục chỉ huy chống quân xâm lược. Dù phải đối mặt với vũ khí hiện đại của thực dân Pháp, ông vẫn không nản lòng. Ông luôn tìm cách củng cố lực lượng, động viên binh sĩ và tổ chức phòng thủ. Tuy nhiên, trước sức mạnh quân sự vượt trội của đối phương cùng những hạn chế trong cách tổ chức kháng chiến của triều đình, tình hình ngày càng trở nên khó khăn.

Năm 1873, thực dân Pháp đánh chiếm thành Hà Nội lần thứ nhất. Khi ấy, Nguyễn Tri Phương đã ngoài bảy mươi tuổi nhưng vẫn được triều đình giao trọng trách chỉ huy quân dân bảo vệ thành. Dù tuổi cao, sức yếu, ông vẫn kiên quyết ở lại cùng binh sĩ, trực tiếp chỉ huy chiến đấu. Trong trận chiến bảo vệ thành Hà Nội, ông bị thương nặng và rơi vào tay quân Pháp.

Khi bị bắt, quân Pháp tìm cách cứu chữa và dụ dỗ ông hợp tác, nhưng Nguyễn Tri Phương kiên quyết từ chối. Ông không chấp nhận cộng tác với kẻ thù. Vì vết thương quá nặng và quyết tâm giữ trọn khí tiết, ông đã tuyệt thực và qua đời vào ngày 20 tháng 12 năm 1873.

Không lâu sau đó, con trai ông là Nguyễn Lâm cũng hi sinh trong cuộc chiến bảo vệ thành Hà Nội. Sự hi sinh của hai cha con đã trở thành biểu tượng xúc động về lòng trung nghĩa và tinh thần bất khuất trước quân xâm lược.

Ngày nay, khi nhắc đến Nguyễn Tri Phương, chúng ta không chỉ nhớ đến một vị tướng tài ba mà còn kính phục một con người có lòng yêu nước sâu sắc, dám hi sinh vì độc lập và danh dự dân tộc. Cuộc đời ông là minh chứng rằng tuổi tác không thể ngăn cản ý chí của một người khi trong tim luôn cháy bỏng tình yêu quê hương.

Câu chuyện về Nguyễn Tri Phương gửi đến thế hệ hôm nay một thông điệp thật ý nghĩa: lòng yêu nước không chỉ thể hiện qua lời nói mà phải được chứng minh bằng hành động, trách nhiệm và sự hi sinh. Dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, chúng ta cũng cần sống có lý tưởng, biết bảo vệ những điều đúng đắn và góp sức xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu đẹp.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn