Bài viết

NGUYỄN TRI PHƯƠNG “Vị tướng sống mãi trong lòng người dân Đà Nẵng”

Đà Nẵng28/12/2025Trường THPT Phan Châu Trinh (Trường THPT Phan Châu Trinh)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Bây giờ nếu ta chỉ lay lắt mà sống, sao bằng thung dung chết về việc nghĩa” – câu nói đầy khí phách của danh tướng Nguyễn Tri Phương đã trở thành biểu tượng cho tinh thần bất khuất của người Việt Nam trong cuộc chiến chống ngoại xâm. Không chỉ thể hiện ý chí kiên cường, lời nói ấy còn khắc họa rõ phẩm chất trung liệt của một vị anh hùng đặt nghĩa lớn lên trên sự sống của bản thân. Từ câu nói đó, chúng ta càng hiểu thêm về con người Nguyễn Tri Phương và những năm tháng ông lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở Đà Nẵng đầy gian khó nhưng rực sáng tinh thần dân tộc.

Nguyễn Tri Phương tên thật là Nguyễn Văn Chương, tự Hàm Trinh, hiệu Đường Xuyên, sinh ngày 9-9-1800 tại làng Đường Long, huyện Phong Điền, phủ Thừa Thiên (nay là tỉnh Thừa Thiên Huế). Năm 1820, ông bắt đầu con đường hoạn lộ với một chức vụ khiêm tốn là thơ lại ở huyện. Sau khi Vua Minh Mạng băng hà, vua Thiệu Trị lên ngôi và bổ nhiệm ông giữ chức Tuần phủ An Giang kiêm Tổng đốc An Hà để dẹp loạn ở tỉnh Sóc Trăng thuộc vùng Nam Kỳ. Đánh đâu thắng đó, lần lượt bình định các tỉnh biên giới xứ Nam Kỳ, ông được vua Thiệu Trị phong tặng danh hiệu ‘‘An Tây Trí Dũng Tướng’’ và phong Hiệp biện đại học sĩ, sung vào Cơ Mật viện Đại thần. Đích thân vua Thiệu Trị ban cho ông một áo ấm gọi là ‘‘giải y từ cừu’’, nghĩa là vua tự cởi áo mình để ban cho một người anh hùng xông pha chốn biên cương nguy khốn. Những năm tiếp theo, ông tiếp tục giữ những chức vụ quan trọng trong đình

Ngày 1/9/1858, khi thực dân Pháp- Tây Ban Nha nổ súng tấn công vào bán đảo Sơn Trà, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược VIệt Nam. Với cương vị Tổng chỉ huy quân đội triều Nguyễn. Ông đã được vua Tự Đức giao nhiệm vụ chỉ huy binh lính chống lại quân Pháp tại mặt trận Đà Nẵng. Khi tới Đà Nẵng, Nguyễn Tri Phương không vội dẫn quân phản công đánh chiếm lại thành ngay mà thực hiện chiến thuật ứng phó dựa vào sức dân, cẩn trọng xem xét lại tổng thể tình hình, vẽ địa đồ và kế sách đánh. Trong sớ gửi về triều đình, Nguyễn Tri Phương nhận định quân địch chiến đấu thì lợi, còn quân ta thủ thì sẽ hơn. Ông đề nghị nên giữ vững những mặt trận còn lại để tìm cách cự chiến, đắp xong đồn lũy rồi dần dần mới xông tới, xác định đánh lâu dài với địch. Ông vận động người dân bất hợp tác với giặc, để lại vườn không nhà trống những vùng bị tấn công. Kế sách “vườn không, nhà trống” lại tiếp tục phát huy tác dụng khiến địch suy yếu vì thiếu nguồn lương thực, thuốc men. Sau khi sơ tán dân, ông bắt đầu cho xây những đồn lũy như đồn Phòng Hải, đồn Trấn Dương. Đồn Điện Hải được ông cho mở rộng và củng cố bởi đây là đồn trọng yếu giữ vai trò là “cái neo” phòng thủ cho khu vực trung tâm thành phố giúp hạn chế sự đổ bộ từ cửa biển của địch. Lợi dụng tình thế quân địch sơ hở không mở rộng phạm vi chiếm đóng, Nguyễn Tri Phương cùng binh lính và người dân xứ Quảng ngày đêm lập phòng tuyến dài từ chân núi Cẩm Khê đến đồn Liên Trì dài 3 km. Phòng tuyến gồm nhiều hầm dích dắc, dưới cắm chông, trên phủ cát và chướng ngại vật ngụy trang, cách một đoạn có một ổ kháng cự, một khẩu đại bác cùng khoảng 10.000 quân trấn giữ. Một viên tướng trong quân đội Pháp phải thừa nhận: "Thành lũy của Nguyễn Tri Phương dựng mau như nấm mọc, hễ chỗ nào có lối đi là có ngay chiến lũy ngăn cản". Còn Savin de Larclause - sĩ quan trong đội quân viễn chinh ở Đà Nẵng, nói "những người An Nam đã đạt được tiến bộ lớn trong nghệ thuật chiến tranh. Chúng tôi chỉ đẩy đuổi được quân địch vài trăm thước, họ đã lui về ẩn mình trong một phòng tuyến mới ngay trước mặt".

Ngày 15 tháng 9 năm 1859, tại đồn Liên Trì, quân ta phải hứng chịu một trận tấn công dữ dội. Trước hỏa lực áp đảo của đối phương, phòng tuyến bị tổn thất nặng: hơn một trăm binh sĩ hy sinh và bị thương, gần một trăm ngôi nhà dân bị đốt phá. Trước tình hình đó, Nguyễn Tri Phương – với trách nhiệm của tổng chỉ huy – đã thẳng thắn dâng sớ xin nhận tội. Vua Tự Đức chấp thuận giáng chức ông, nhưng vẫn giữ lại ở Đà Nẵng để tiếp tục chỉ huy, với hy vọng ông lập công chuộc tội.

Mặc dù chịu nhiều hy sinh và tổn thất ban đầu, cục diện chiến trường về sau dần chuyểnbiến có lợi cho quân triều đình. Nhờ sự tổ chức phòng thủ kiên cố, chiến lược chủ động cầm cự và sự điều binh hợp lý của Nguyễn Tri Phương, liên quân Pháp – Tây Ban Nha ngày càng gặp nhiều khó khăn, rơi vào thế bị động, không thể đánh nhanh thắng nhanh như dự tính ban đầu.
Sáng ngày 20/11/1873, trong khi chỉ huy chiến đấu ở cửa Nam Thành khi quân pháp đánh chiếm Hà Nội. Ông bị thương bị địch bắt. Nhưng khi phía Pháp muốn cứu chữa hòng mua chuộc nhưng bất thành. Vị tướng già đã thẳng thắn từ chối băng bó vết thương và nói rằng: “Nếu ta chỉ gắng sống lay lắt thì sao bằng ung dung chết vì việc nghĩa”. Tròn một tháng sau, ông qua đời chấm dứt một cuộc đời lẫy lừng hết mình vì nhân dân, đất nước. Vua Tự Đức cho lập đền thờ tại quê nhà và lệnh cho thờ ông ở đền Trung Nghĩa (Hà Nội), trong các bài văn tế vua đánh giá ông là “bậc anh kiệt”

Dẫu thời gian có thể làm phai nhòa những dòng ký ức xa xưa, nhưng những đóng góp to lớn và tinh thần anh dũng của Nguyễn Tri Phương vẫn trường tồn như một dấu ấn bất diệt trong lòng lịch sử Việt Nam. Hình ảnh vị tướng kiên cường, dám đối mặt với quân thù hùng mạnh, vẫn hiện lên đầy tự hào trong tâm thức bao thế hệ. Người dân Đà Nẵng nói riêng và người Việt Nam nói chung luôn dành cho ông sự kính trọng và lòng biết ơn sâu đậm, bởi quá khứ hào hùng mà ông để lại không chỉ là lịch sử, mà còn là bài học sâu sắc về lòng yêu nước và khí phách của con người Việt Nam trước thử thách. Bởi lẽ, Nguyễn Tri Phương không chỉ chiến đấu bằng tài năng quân sự sắc bén mà còn bằng cả trái tim yêu nước nồng nàn, bằng tấm lòng trung son dành trọn cho Tổ quốc. Ông sẵn sàng hy sinh danh vọng, địa vị, thậm chí cả sinh mạng để bảo vệ từng tấc đất quê hương. Cuộc đời ông như một bản hùng ca đẹp đẽ, vang vọng qua năm tháng, nhắc nhở mỗi người con đất Việt về trách nhiệm gìn giữ non sông, về ý nghĩa thiêng liêng của độc lập và tự do. Chính những trang sử mà ông để lại đã làm sáng lên sức mạnh của ý chí, của niềm tin bất khuất luôn chảy trong huyết mạch dân tộc. Ngày nay, người dân Đà Nẵng luôn ghi nhớ công lao của vị danh tướng này. Bởi ông là vị tướng giữ trọn khí tiết, không rời bỏ Đà Nẵng trong ngày giặc đến.Tên ông được đặt cho nhiều công trình, đường phố quan trọng, như đường Nguyễn Tri Phương – một trong những tuyến đường trung tâm của thành phố. Đây không chỉ là sự tôn vinh lịch sử mà còn nhắc nhớ về một giai đoạn hào hùng của vùng đất này.Ngoài ra, bán đảo Sơn Trà hay bảo tàng Đà Nẵng với các tư liệu lịch sử trưng bày, góp phần khắc họa rõ nét một người chỉ huy xuất sắc, tài tình trong lòng nhân dân.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn