Bài viết

NGUYỄN TRUNG NGẠN – VỊ HIỀN TÀI TRỜI ĐỊNH (1)

Nguyễn Trung Ngạn (1289–1370), tự Bang Trực, hiệu Giới Hiên, quê ở Ân Thi (Hưng Yên), là một danh thần kiệt xuất thời Trần. Xuất thân bình dân nhưng nổi tiếng thần đồng, ông 16 tuổi đỗ Hoàng giáp và sớm bước vào con đường làm quan. Suốt cuộc đời, ông đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng như Thị ngự sử, An phủ sứ, Hành khiển, Kinh lược sứ Lạng Giang, Đại hành khiển, Thượng thư hữu bật và được phong Thân Quốc công. Ông nổi tiếng thanh liêm, giỏi chính sự, có nhiều chính sách an dân như lập kho Tào T

Hưng Yên17/12/2025Nguyễn Văn Khải (chi đoàn 10a1)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Nguyễn Trung Ngạn, quê ở xã Ân Thi thuộc tỉnh Hưng Yên ngày nay, thuở nhỏ mang tên Cốt, tự Bang Trực, hiệu Giới Hiên. Dù xuất thân trong một gia đình bình dân, ông sớm bộc lộ tư chất thần đồng. Năm 16 tuổi, vào khoa Giáp Thìn (1304) đời Trần Anh Tông, ông đỗ Hoàng giáp, mở đầu cho một cuộc đời hiển đạt và thanh liêm.

Khi 24 tuổi, ông được bổ làm Giám quan. Đến triều Trần Minh Tông (1314), ông được giao trọng trách đi sứ nhà Nguyên lúc mới 26 tuổi – một nhiệm vụ đầy thử thách nhưng ông đã hoàn thành xuất sắc, góp phần giữ vững quan hệ bang giao Nam – Bắc.

Từ năm 1321, Nguyễn Trung Ngạn đảm nhiệm chức Thị ngự sử rồi được điều ra làm Thông phán ở châu Anh Lãng. Tại đây, ông nổi tiếng giỏi chính sự, liêm khiết và quyết đoán. Nhờ tài năng ấy, ông được cất nhắc làm Thiên tri, coi việc trong cung Thánh Từ.

Đến năm 1326, ông làm An Phủ sứ Thanh Hoa; ba năm sau, ông đi theo vua Trần Minh Tông trong cuộc chinh phạt Đà Giang và được giao biên soạn Thục lực ghi lại hành trình này. Từ năm 1332, ông lần lượt giữ nhiều chức vụ quan trọng: coi viện Thẩm hình, kiêm An Phủ sứ Nghệ An, tham gia chép quốc sử, rồi làm Tào Vận sứ ở Khoái Châu — nơi ông lập kho Tào Thương để cứu đói cho dân, một chính sách đầy tính nhân đạo.

Năm 1341, ông cùng Trương Hán Siêu biên định bộ Hoàng Triều đại điển, khảo soạn Hình thư. Đến năm 1342, ông được thăng Hành khiển, coi viện Khu mật. Năm 1355 là đỉnh cao sự nghiệp của ông với hàng loạt chức tước trọng vọng: Kinh lược sứ trấn Lạng Giang, Nhập nội Đại hành khiển, Thượng thư hữu bật, kiêm viện Khu mật, Đại học sĩ, Trụ quốc, Khai Huyện bá và được gia phong Thân Quốc công.

Dù trải qua nhiều chức vụ, từ Thông giám đến Tể tướng, Nguyễn Trung Ngạn luôn nổi tiếng liêm khiết, tận tâm vì dân vì nước. Ông còn là nhà ngoại giao xuất sắc, hai lần đi sứ nhà Nguyên, khẳng định khí phách và trí tuệ Đại Việt. Chính ông từng tóm lược cuộc đời mình trong mấy vần thơ hào sảng:

Giới Hiên tiên sinh tài lang miếu
Có chí nuốt trâu từ niên thiếu
Tuổi mới mười hai thái học sinh,
Vừa đến mười sáu dự thi đình
Hai mươi bốn tuổi làm quan giám
Hai mười sáu tuổi sứ Yên Kinh.

Không chỉ là chính khách, ông còn là nhà thơ, nhà văn tài hoa. Thơ Nguyễn Trung Ngạn giàu nhạc điệu, trong sáng, kết hợp được tinh thần yêu nước, thương dân với phong thái tao nhã. Phan Huy Chú từng ca ngợi thơ ông “hài mại, phóng khoáng, có khí phách Đỗ Lăng… đặc biệt thơ tứ tuyệt rất hay, không kém gì thời thịnh Đường”.

Tên tuổi Nguyễn Trung Ngạn được lưu truyền rộng rãi. Nhiều nơi trên cả nước, từ Hưng Yên đến Hà Nội và nhiều tỉnh thành khác, đã đặt tên trường học, đường phố, công trình văn hóa để tưởng nhớ ông. Riêng tại Hà Nội – nơi ông gắn bó phần lớn cuộc đời – có tới bảy ngôi đền thờ ông.

Dẫu thời gian qua đi, tấm gương hiền tài, khí tiết và lòng vì dân của Nguyễn Trung Ngạn vẫn sáng mãi, trở thành niềm tự hào và là bài học lớn cho bao thế hệ sau.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn