Nguyễn Trung Trực
Nguyễn Trung Trực (Sinh năm Đinh Dậu 1837 – mất năm Mậu Thìn 1868), Quê ở phủ Tân An, tỉnh Gia Định (nay thuộc ngoại ô thị xã Tân An, Long An).
Nguyễn Trung Trực xuất thân trong một gia đình chài lưới ở hạ lưu sông Vàm Cỏ, sớm nuôi dưỡng tinh thần yêu nước và ý chí chống ngoại xâm. Năm 1861, hưởng ứng phong trào Cần Vương chống thực dân Pháp, ông chiêu mộ đông đảo nông dân nổi dậy đánh phá các đồn Pháp tại vùng phủ Tân An, lập nhiều chiến công và được triều đình Huế phong chức Quản cơ. Dưới sự lãnh đạo của ông, nghĩa quân gồm nhiều nhà yêu nước như Nguyễn Văn Điền, Nguyễn Học, Hồ Quang… đã tổ chức trận phục kích vang dội, đốt cháy tàu chiến L’Esperance của Pháp tại vàm Nhật Tảo trưa ngày 10-12-1861. Sau đó, ông tiếp tục chỉ huy nghĩa quân hoạt động ở Gia Định, Biên Hòa; khi ba tỉnh miền Đông Nam Bộ rơi vào tay giặc theo Hòa ước Nhâm Tuất (1862), ông được phong chức Lãnh binh rồi Hà Tiên thành thủ úy để trấn giữ vùng Hà Tiên. Khi thành Hà Tiên thất thủ ngày 23-6-1867, Nguyễn Trung Trực rút quân về Rạch Giá, lập căn cứ tại Hòn Chồng, tiếp tục chiến đấu và ngày 16-6-1868 đã đánh úp đồn Kiên Giang, giành quyền làm chủ tình hình. Trước cuộc phản công lớn của Pháp, ông rút quân ra Phú Quốc xây dựng căn cứ lâu dài; đến tháng 10-1868, để bảo toàn lực lượng nghĩa quân và nhân dân, ông chủ động ra nộp mình cho giặc. Dù bị dụ dỗ, mua chuộc hay đe dọa, ông vẫn kiên quyết không đầu hàng và hiên ngang tuyên bố rằng chỉ khi nào nhổ hết cỏ trên mặt đất thì thực dân Pháp mới có thể tiêu diệt được tinh thần yêu nước của nhân dân Việt Nam. Ngày 27-10-1868, Nguyễn Trung Trực bị giặc Pháp xử tử tại chợ Rạch Giá khi mới 31 tuổi, để lại tấm gương sáng ngời về lòng yêu nước và khí phách anh hùng. Để tưởng nhớ công lao của ông, ngày nay nhân dân ta thờ phụng Nguyễn Trung Trực ở nhiều nơi, tiêu biểu là các đền thờ tại Long An, Rạch Giá và Gành Dầu (Phú Quốc).


